Ghi chép về nghề thuốc cổ truyền của dân tộc Dao ở xã Ba Vì, huyện Ba Vì Hà Nội

GHI CHÉP VỀ NGHỀ THUỐC CỔ TRUYỀN CỦA DÂN TỘC  DAO Ở XÃ BA VÌ HUYỆN BA VÌ, HÀ NỘI.

                                                                        Trần Trí Dõi 

Từ khóa: người Dao, Ba Vì, Hà Nội, nghề thuốc, cổ truyền, lưu giữ.

Tóm tắt: Từ Trung Quốc chuyển đến Việt Nam, người Dao vẫn duy trì được văn hóa truyền thống của dân tộc qua việc bảo lưu được nghề thuốc cổ truyền. Hiện nay, những người Dao (quần chẹt) ở xã Ba Vì, huyện Ba Vì thành phố Hà Nội không chỉ khai thác nguồn dược liệu có sẵn  mà còn trồng trọt lưu giữ những cây dược liệu quý. Dựa vào tri thức dân gian, kết hợp với môi trường sống thích hợp là vùng núi Ba Vì (với đỉnh cao nhất 1296m) có nhiều cây thuốc quý, người Dao ở xã Ba Vì vẫn duy trì được truyền thống văn hóa dân tộc. Đây có thể là một ví dụ điển hình về việc bảo vệ văn hóa sinh thái nơi cộng đồng người Dao cư trú, phát huy được giá trị của nghề cổ truyền để làm giầu cho mình và cho xã hội.

Toàn văn.

1. Người Dao ở xã Ba Vì huyện Ba Vì thành phố Hà Nội.

Xã Ba Vì là một xã dân tộc miền núi nằm dưới chân dãy núi Ba Vì thuộc huyện Ba Vì, cách trung tâm thành phố Hà Nội khoảng 60 km về phía tây. Xã Ba Vì phía đông giáp xã Vân Hòa; phía bắc giáp xã Tản Lĩnh, Ba Trại; phía tây giáp xã Minh Quang, Khánh Thượng; phía Nam là vùng núi Ba Vì. Hiện nay, tổng diện tích tự nhiên của xã là 2538,01ha, có 461 hộ gia đình với 1918 nhân khẩu; trong đó người Dao (Quần chẹt) chiếm 98% dân số cư trú ở ba thôn (bản) là Hợp Nhất, Yên Sơn và Hợp Sơn; số 2% dân cư còn lại trong xã Ba Vì là người Kinh và người Mường. Có thể nói, Ba Vì là một xã thuần dân tộc Dao sinh sống ở về phía tây Hà Nội.

Kết quả nghiên cứu của giới Dao học cho biết, người Dao ở Việt Nam hiện nay là từ Trung Quốc chuyển cư đến. Họ di cư từ Quảng Đông vào Quảng Ninh (Việt Nam) rồi phân tán ra các địa điểm khác nhau, trong đó có Vĩnh Phúc, Hoà Bình, Phú Thọ v.v. [P. Q. Hoan (1999)]. Một số già làng người Dao ở Ba Vì cho rằng họ là những người chuyển cư từ Vĩnh Phúc, Hoà Bình, Phú Thọ sang vùng núi Ba Vì để tìm kế mưu sinh, do trước đây vùng núi này có nguồn tài nguyên thiên nhiên rất phong phú. Theo ghi nhớ của người Dao ở Ba Vì, tổ tiên họ đến nơi đây lập nghiệp tính đến nay đã được khoảng hơn hai thế kỷ.

Ở vùng núi Ba Vì, ban đầu người Dao cư trú trên lưng chừng sườn núi và canh tác chủ yếu bằng đốt rừng làm nương, thu hái sản vật trong rừng. Sau cuộc vận động hạ sơn năm 1968, đặc biệt là từ khi Việt Nam quyết định thành lập Khu bảo tồn vườn Quốc gia Ba Vì (năm 1991, theo quyết định số 407- CT ngày 18 tháng 12 năm 1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam), toàn bộ người Dao đang sống rải rác trên sườn núi cao này đều được chuyển xuống định cư ở chân núi thuộc xã Ba Vì như hiện nay. Người Dao ở đây được nhà nước địa phương giao đất để trồng trọt; họ đã thay đổi phương thức sản xuất chuyển từ đốt rừng làm nương rẫy sang trồng và bảo vệ rừng, và bắt đầu biết canh tác ruộng nước, biết làm kinh tế chăn nuôi vườn – ao – chuồng (VAC). Vào thời điểm hiện nay, người Dao ở Ba Vì đã có cuộc sống định cư, định canh một cách ổn định và bền vững. Cũng giống như người Dao sinh sống ở Việt Nam, tâm lý chung của người Dao Ba Vì là ưa thích cư trú theo từng thôn bản riêng biệt mà không có người khác tộc đan xen để được tự do vận hành các phong tục tập quán của dân tộc. Chính vì vậy, tuy vùng núi Ba Vì có người Mường cũng là dân tộc thiểu số cùng cư trú nhưng người Dao ở đây không sống xen kẽ mà trong bản chỉ thuần nhất một dân tộc thuộc nhóm Dao Quần chẹt. Tại đây, người Dao có các họ Dương, Lý, Bàn, Đặng, Phùng, Lăng, Triệu; trong đó họ Triệu là họ đông nhất và được coi là họ di cư đầu tiên đến vùng núi Ba Vì. Sự thuận lợi về môi trường sinh sống của vùng rừng núi Ba Vì, cộng với việc cư trú tập trung không đan xen đã tạo cơ sở cho nhiều yếu tố văn hoá truyền thống của cộng đồng Dao ở Ba Vì có cơ hội được bảo tồn. Một trong những yếu tố văn hoá được bảo tồn lâu bền là nghề thuốc truyền thống của người Dao nhờ môi trường thực vật và động vật vô cùng phong phú của vùng rừng núi Ba Vì.

2. Nghề thuốc dân gian của người Dao ở xã Ba Vì huyện Ba Vì.

2.1. Nghề thuốc của người Dao ở Ba Vì là nghề “truyền thừa”.

Gắn bó cả cuộc đời với nghề thuốc cổ truyền dân tộc, bà lương y Triệu Thị Thanh ở bản Dao Hợp Sơn cho biết là đã chữa khỏi bệnh cho rất nhiều người. Để biết làm nghề, ngay từ lúc còn nhỏ bà đã theo bà, theo mẹ của mình đi hái cây thuốc trong vùng rừng núi Ba Vì. Lớn lên, với những kiến thức kinh nghiệm học hỏi từ bà và mẹ được tích lũy lại, bà Thanh bốc thuốc, chữa bệnh không lấy tiền cho người dân trong bản, trong xã và các địa phương lân cận. Từ đó, bà khổ luyện thành người có tay nghề cao. Bây giờ, bà là lương y có tiếng ở bản người Dao, am hiểu tường tận về từng loài cây, vị thuốc và công dụng của nó.

Còn theo như bà lương y Triệu Thị Hòa, hiện là chủ tịch hội Đông y xã Ba Vì “…chẳng ai biết chính xác những bài thuốc chữa bệnh của người Dao có từ bao giờ, chỉ biết khi lớn lên là được cha mẹ truyền cho. Trẻ con người Dao trên núi Ba Vì, có đứa còn chưa sõi nhưng chỉ cây thuốc nào hỏi tên là cây gì, chữa bệnh gì thì nói vanh vách” [NT  giả (2012), tr 12].  Cũng theo lời bà, “Nghề làm thuốc được người Dao truyền miệng, không ghi chép vào sách vở… Một số bài thuốc phổ biến thì có cách chế biến và liều lượng giống nhau, nhưng cũng có bài thuốc lại khác nhau do cách phối vị thuốc của mỗi gia đình theo bí quyết riêng. Bởi vậy, thuốc Nam của dân tộc Dao gọi là cổ truyền cũng được mà gia truyền cũng đúng”  [Nhiều tác giả (2012), tr 20]

Còn lương y Triệu Thị Bảy ở bản Hợp Nhất (hiện nay gần sang tuổi 70, có trên 40 năm làm nghề thuốc) cũng xác nhận: Cách truyền nghề của người Dao ở Ba Vì là theo cách trực quan. Người mới vào nghề phải theo chân các bậc tiền bối có nhiều kinh nghiệm lên núi tìm kiếm cây thuốc. Khi nhận biết được các loại cây thuốc thì mới được dạy cách xem bệnh và bốc thuốc để chữa bệnh. Như vậy, theo giải thích của ba vị lương y, nghề thuốc của người Dao ở Ba Vì là sự kế thừa kinh nghiệm của những thế hệ đi trước, lớp trước “truyền thừa” cho lớp sau, lớp sau “kế thừa” tri thức đã có từ lớp trước. Không những “truyền thừa” về kỹ thuật, người Dao Ba Vì còn truyền thừa về y lý của nghề. Theo đó, khi dùng thuốc chữa bệnh, lương y đều có bốn bước xử lý theo nguyên tắc là trị bệnhkhỏi bệnhchống tái phát và tiệt nọc bệnh.

Tính “truyền thừa” nghề thuốc của người Dao Ba Vì còn thể hiện ở chỗ trước hết họ làm thuốc là để chữa bệnh cho bản thân mình, dân tộc mình, sau đó mới là chữa cho mọi người. Lương y Triệu Thị Thanh giải thích rằng khi người Dao đến vùng núi Ba Vì để “an cư lập nghiệp”, họ phải ở tít trên lưng chừng núi cao và dựa vào rừng Ba Vì để kiếm sống. Vì thế khi lâm bệnh, người Dao phải tìm cây rừng để tự chạy chữa. Với kinh nghiệm dân gian truyền từ đời này qua đời khác, người Dao Ba Vì biết bốc thuốc chữa những bệnh thường gặp như phong, thấp khớp, sỏi thận, đái buốt, đái dắt, đái tháo đường, ho hen, ho lao, ho ra máu, trĩ nội, trĩ ngoại, hậu sản, dạ dày, viêm phổi v.v. Lúc đầu, người Dao Ba Vì có phong tục bốc thuốc cứu người không lấy tiền, ai khỏi bệnh thì đến nhà thầy thuốc tạ ơn tổ tiên bằng sản phẩm nông nghiệp như con gà, gạo nếp, chai rượụ, v.v. Về sau, nhờ danh tiếng của thuốc dân tộc Dao ở Ba Vì lan xa, nghề thuốc của người Dao mới trở thành kế sinh nhai. Các lương y ở Ba Vì lặn lội trên khắp những nẻo đường để bán thuốc kiếm sống.

2.2. Nghề thuốc của người Dao ở Ba Vì là sự kết hợp “truyền thống dân gian” và “môi trường sinh thái” nơi cư trú.

Vùng rừng núi Ba Vì là vùng núi trung bình và thấp, tiếp giáp với vùng bán sơn địa, nổi lên giữa đồng bằng (cách hợp lưu sông Đà và sông Hồng 20 km về phía nam). Trong Vườn quốc gia Ba Vì có một số đỉnh núi có độ cao trên 1000m như Đỉnh Vua (1296), đỉnh Tản Viên (1227m), đỉnh Ngọc Hoa (1131m), đỉnh Viên Nam (1081m) và một số đỉnh thấp hơn. Núi Ba Vì gồm hai dải chính là dải chạy theo hướng Đông – Tây  qua đỉnh Tản Viên dài 9 km và dải chạy theo hướng Tây – Bắc – Đông – Nam cũng qua đỉnh Tản Viên dài 11 km. Ba Vì là một vùng núi rừng có độ dốc khá lớn, sườn phía Tây do đổ xuống sông Đà nên dốc hơn so với sườn Tây Bắc và sườn Đông Nam; càng lên cao độ dốc càng tăng, từ độ cao 400m trở lên, độ dốc trung bình là 350, và có vách đá lộ thiên nên việc đi lại là rất khó khăn.

Không chỉ là nơi có điều kiện địa lý tự nhiên “nguyên sơ” như thế, vùng núi Ba Vì còn là nơi có hình thái khí hậu thủy văn khá đặc biệt. Sự phối hợp giữa gió mùa và vĩ độ đã tạo nên khí hậu trong vùng là nhiệt đới ẩm với mùa đông lạnh và khô. Nhiệt độ bình quân năm trong khu vực là 23,40C. Ở vùng thấp, nhiệt độ thấp nhất xuống tới 2,70C; nhiệt độ cao nhất lên tới 420C. Ở độ cao 400m nhiệt độ trung bình năm 20,60C; từ độ cao 1000m trở lên nhiệt độ chỉ còn 160C. Nhiệt độ thấp tuyệt đối có thể xuống 0,20 C. Nhiệt độ cao tuyệt đối chỉ là 33,10C. Lượng mưa trung bình năm 2.500mm, phân bố không đều trong năm, tập trung nhiều vào tháng 7 tháng 8. Độ ẩm không khí là 86,1%. Vùng thấp thường khô hanh vào tháng 12, tháng 1. Từ độ cao 400m trở lên không có mùa khô.

Chính nhờ “môi trường sinh thái tự nhiên” như thế, vùng rừng núi Ba Vì – nơi người Dao cư trú – là vùng thực vật lý tưởng đối với nghề thuốc truyền thống. Theo thống kê ở sách “Cây thuốc người Dao Ba Vì”, trong số 1.209 loài thực vật có trong rừng Quốc gia Ba Vì, có tới 507 loại cây cỏ người Dao dùng làm thuốc chữa bệnh  [Nhiều tác giả (2012), tr 98-110]. Trong số những loài dược liệu này, có những cây thuộc loại quý và hiếm. Trong danh sách thống kê mà Tiến sĩ Trần Văn Ơn, Trưởng bộ môn Thực vật trường Đại học Dược Hà Nội công bố, mỗi loại thảo dược quí đều có tên thường dùng, tên theo tiếng Dao và tên khoa học (ví dụ, cây “bình vôi” tên gọi theo tiếng Dao là “đìa đòi pẹ”). Với việc mỗi loại thảo dược dùng để chữa bệnh đều có tên gọi bằng tiếng Dao cùng với tên gọi phổ thông như thế, nó xác nhận rằng người Dao ở Ba Vì là những chủ nhân thực sự của nguồn dược liệu quý giá này.

Như vậy, có thể nói điều kiện tự nhiên (địa lý và khí hậu) vùng núi Ba Vì là vùng lý tưởng cho những loài thực vật sinh trưởng. Trong môi trường ấy, người Dao với kinh nghiệm truyền thống của mình đã nhận ra công dụng của nhiều loại dược liệu quý hiếm được lưu giữ trong vùng. Vì thế có thể nói rằng nghề thuốc của người Dao ở Ba Vì chính là sự kết hợp giữa “truyền thống dân gian” và “môi trường sinh thái” nơi người Dao cư trú.

2.3. Những cách thức “làm thuốc, chữa bệnh của người Dao ở Ba Vì.

Đối với người Dao ở Ba Vì, làm nghề thuốc không đơn thuần chỉ là việc sử dụng dược liệu để bốc thuốc. Họ kiêm luôn cả công việc tìm kiếm cây thuốc, chế biến dược liệu và xem bệnh bốc thuốc. Như vậy, thầy thuốc người Dao ở Ba Vì vừa làm nhiệm vụ của người tìm kiếm và chế biến dược liệu, vừa là người xem bệnh để bốc thuốc. Để có được một khả năng như thế, rõ ràng chỉ có thể là nhờ sự kế thừa tri thức cổ truyền của dân tộc cũng như kế thừa kinh nghiệm gia truyền của mỗi một gia đình mà có.

Thường thường, những vị thuốc quý hiếm vẫn ẩn mình trên núi cao đại ngàn. Vì thế, người Dao Ba Vì khi làm thuốc phải khổ công lặn lội trong rừng sâu núi thẳm mới tìm kiếm được chúng. Có thể nói, việc tìm kiếm dược liệu là một kỳ công của người làm thầy thuốc ở nơi đây. Và vì thế, mức độ thành công của từng lương y người Dao ở Ba Vì phụ thuộc rất nhiều vào khả năng tìm kiếm nguồn dược liệu mà họ có thể làm được. Theo đó, người nào có khả năng tìm kiếm được nguồn dược liệu tốt, người đó sẽ có điều kiện chữa bệnh tốt hơn.

Sau khi thu hái được, người ta mang về và băm hay chặt thành những kích cỡ khác nhau, phù hợp với mỗi loại dược liệu. Sau đó, dược liệu đã sơ chế này được rửa sạch để phơi hay sấy khô. Mỗi loại dược liệu có cách phơi sấy khô rất khác nhau, sao cho việc phơi sấy vẫn đảm bảo trọn vẹn công dụng của mỗi một loại dược liệu. Đây là công đoạn đòi hỏi người làm thuốc phải xử lý dược liệu một cách rất công phu, tỷ mỷ. Sau công đoạn này, thuốc được lưu giữ như đóng gói, cất trong những dụng cụ bảo quản để sau đó dùng bốc thuốc hay chế biến thành những dạng khác. Những công việc như thế là công đoạn “làm” thuốc hay “sơ chế” thuốc của người Dao ở Ba Vì.

Hiện nay, người Dao ở Ba Vì có ba cách “sử dụng” thuốc để chữa bệnh. Cách thông dụng nhất đối với thuốc đông y là “sắc thuốc” để uống. Cách thứ hai là sử dụng thuốc theo hình thức “tắm thuốc”. Cách dùng này phụ thuộc vào thể trạng của một số người; hoặc liên quan đến một số bệnh đặc thù (như phục hồi sức khỏe sản phụ sau sinh nở v.v). Khi dùng theo cách tắm thuốc, người Dao thường phối hợp những loại dược liệu cần thiết khác nhau, đun sôi với một lượng nước cần cho người tắm, sau đó để đến khi còn ấm khoảng 300C thì ngâm mình vào tắm. Thuốc tắm của người Dao Ba Vì nổi tiếng nhất là loại thuốc tắm đẻ truyền thống. Loại thuốc này giúp cho người sản phụ nhanh chóng phục hồi sức khỏe, sạch máu huyết và sau khi sinh nở từ 7 đến 10 ngày, sản phụ có thể lao động bình thường như trước khi sinh. Hai cách dùng thuốc vừa nói ở trên là hai cách dùng thuốc truyền thống của người Dao ở Ba Vì.

Cách thứ ba là dùng dưới dạng “cao thuốc” hay “cao lá”. Theo những lương y người Dao ở Ba Vì, loại thuốc “cao lá” mới chỉ xuất hiện khoảng mấy chục năm gần đây.  Đây có thể coi là cách sử dụng thuốc “cải tiến” của người Dao Ba Vì, khác với hai cách dùng truyền thống đã nói ở trên, vừa tiện dụng mà vẫn giữ được công dụng của thuốc. Theo đó, người ta phối hợp rất nhiều loại dược liệu khác nhau, đun nấu chúng liên tục trong nhiều tuần liền để cô lại thành cao. Có nhiều loại cao chữa những bệnh khác nhau và cũng rất công dụng. Sau khi thuốc nấu thành cao, người dùng có thể ngâm rượu để uống, nuốt từng miếng nhỏ, hấp với nước cơm để uống v.v.

Như vậy, cách thức chế biến và sử dụng thuốc ở người Dao Ba Vì là rất đa dạng. Nó vừa lưu giữ cách thức chế biến và sử dụng theo lối truyền thống, vừa có những “cải tiến” cho phù hợp và tiện lợi.

3. Kế thừa và phát triển nghề thuốc của người Dao ở Ba Vì

            Trong điều kiện hiện nay, nghề thuốc của người Dao ở Ba Vì đã có sự thay đổi. Theo đó, người ta vừa tiếp tục “thu hái” cây thuốc trong tự nhiên vừa chủ động “trồng thuốc” để có nguồn dược liệu. Và nghề thuốc nơi đây không còn là nghề “tự cung, tự cấp” nữa mà đã trở thành một “nghề” để thu nhập.

            3.1. Kết hợp giữa tri thức dân gian và y học hiện đại

Theo bà lương y Triệu Thị Bảy, nghề thuốc của người Dao ở Ba Vì bây giờ có nguy cơ thất truyền là do nguồn cây thuốc trên rừng đã ngày càng cạn kiệt. Hơn nữa, rừng Quốc gia Ba Vì đã trở thành khu rừng cấm khai thác nên người Dao không được tùy tiện lên núi hái thuốc. Để tránh không làm cho nghề thất truyền, những lương y như bà Triệu Thị Thanh, Triệu Thị Bảy cùng nhiều người Dao khác đã tìm kiếm cây thuốc trong rừng về trồng tại vườn nhà. Tuy nhiên, có những loài rất quý hiếm như cây hoa tiên, củ dòm, cây bổ máu huyết rồng, cây dào xị, cây đìa sản, cây đìa ùi, cây xạ đen, cây kim ngân v.v phải trồng từ 10 đến 20 năm mới sử dụng được.Cho nên, theo những lương y này, có gần 280 loài thảo dược ở Ba Vì đang đứng trước nguy cơ cạn kiệt, trong đó 120 loài đứng trên bờ bị tuyệt chủng.

Trước tình trạng ấy, với tài trợ của những quỹ phát triển như Quỹ Rockerfeller, Quỹ châu Á và Trung tâm Môi trường và phát triển cộng đồng, Dự án “Phát triển mô hình du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội”, người Dao ở Ba vì đang tìm cách bảo tồn nguồn dược liệu hiện có. Theo đó, người Dao ở Ba Vì tham gia tích cực gìn giữ môi trường thiên nhiên làm nên đặc trưng cây thuốc của người Dao Ba Vì. Cộng đồng người Dao tham gia tích cực vào những hoạt động tập huấn, nâng cao tri thức cho người dân bản địa. Theo đó, những dự án nói trên còn xuất bản sách thuốc và giúp người Dao thành lập công ty dược của cộng đồng để phát triển nguồn dược liệu quý hiếm.

Ví dụ như dự án “Phát triển mô hình du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội” đã mời dược sỹ từ các trường Đại học Y, Dược Hà Nội tới tập huấn cho lương y người Dao ở ba bản Yên Sơn, Hợp Nhất và Hợp Sơn xã Ba Vì. Nội dung tập huấn là cách thức bảo tồn bền vững, thu hái chế biến sản phẩm thảo dược để tiến tới đăng ký “thương hiệu Làng nghề thuốc”.  Những Quỹ và dự án nói trên đã giúp những hộ gia đình người Dao lập vườn ươm nhân giống cây thuốc có sẵn, cung cấp giống thuốc mới, hỗ trợ chế biến, sử dụng dụng cụ phơi sấy đơn giản. Đặc biệt, khuyến khích người Dao Quần chẹt Ba Vì thành lập công ty thuốc, khác với mô hình hợp tác xã đã có trước đây.

Ngày 28/2/2012, công ty Cổ phần thuốc người Dao Ba Vì đã chính thức đi vào hoạt động. Công ty này tồn tại dưới dạng bao gồm những công ty nhỏ của cộng đồng người Dao, do người Dao góp vốn, góp đất, góp bí quyết bài thuốc, góp nguyên vật liệu xây dựng v.v. Những công ty nhỏ của cộng đồng người Dao chiếm hơn 50% vốn của cả Công ty lớn. Có những bài thuốc gia truyền được nghiên cứu một cách khoa học tại trường Đại học Dược Hà Nội rồi sau đó chuyển giao lại cho các lương y dưới dạng góp cổ phần. Với cách làm này, người Dao có thể tham gia hoạt động như nhân viên công ty, hợp đồng trồng và cung cấp dược liệu cho công ty. Nhưng có một khó khăn là những lương y người Dao Ba Vì hiện không có bằng cấp hành nghề do pháp luật chưa quy định cơ quan nào có quyền cấp bằng hành nghề cho những người làm nghề thuốc cổ truyền dân tộc. Điều đó khiến cho việc công nhận làng nghề thuốc và lập công ty thuốc cổ truyền dân tộc gặp không ít khó khăn.

            3.2. Làm thuốc và chữa bệnh trở đã thành một “nghề” sinh sống.

            Trước đây, lương y người Dao Ba Vì lặn lội trên những nẻo đường để bán thuốc. Vì không có thương hiệu, nên họ cứ lang thang bán thuốc từ năm này qua năm khác, từ nơi này sang nơi khác với bao gian truân, cơ cực. Và họ đã từng hát “Người Dao ta không có đất/ Lam lũ chạy theo núi rừng/ Đói nghèo bám chặt vào lưng”. Hiện nay, nhờ định cư và nhờ những dự án bảo tồn và phát triển y học cổ truyền, người Dao ở Ba Vì có triển vọng về một cuộc sống ấm no dựa vào chính vốn liếng quý báu của dân tộc mình.

Lấy trường hợp như lương y Triệu Thị Hòa, hiện là chủ tịch hội Đông y xã Ba Vì làm ví dụ. Từ năm 1994 sau khi được nghỉ hưu đến nay, bà lấy nghề làm thuốc gia truyền dân tộc Dao là nghề sinh sống. Theo bà, nghề này có triển vọng làm giầu được. Bà cho biết, sau khi bán thuốc cổ truyền được 3 năm, bà đã xây được 1 ngôi nhà 4 gian đổ mái bằng và 3 gian nhà bếp. Từ đó, bà đề nghị UBND xã cho phép thành lập Hội đông y xã Ba Vì và được tỉnh đồng ý quyết định thành lập ngày 30/6/1996. Từ đó, với khoảng 20 năm làm nghề thuốc dân tộc Dao, gia đình bà đã xây được 2 nhà 2 tầng và mua sắm trong nhà những tiện nghi đầy đủ. Bây giờ, các con của bà hiện cũng đang theo nghề thuốc cổ truyền của dân tộc Dao là nghề sinh sống.

4. Kết luận.

            Như vậy, dựa vào tri thức dân gian cổ truyền, kết hợp với môi trường sống thích hợp là vùng núi Ba Vì (với đỉnh núi cao nhất 1296m, có nhiều cây thuốc quý), người Dao ở xã Ba Vì (huyện Ba Vì thành phố Hà Nội) vừa duy trì được truyền thống văn hóa dân tộc, vừa đảm bảo cuộc sống âm no hạnh phúc của mình. Rõ ràng là, qua việc bảo lưu và phát triển được nghề thuốc cổ truyền, những người Dao ở xã Ba Vì cho chúng ta thấy một một ví dụ điển hình về việc bảo vệ văn hóa sinh thái nơi cộng đồng người Dao cư trú. Từ đó họ phát huy được giá trị của nghề cổ truyền dân tộc để làm giầu cho dân tộc mình và phục vụ cho xã hội.

Chú thích:

* Bài viết này là kết quả của những lần đi nghiên cứu thực địa theo đề tài QG.11.05 do PGS.TS Tạ Hòa Phương trường Đại học Khoa học Tự nhiên chủ trì.

1. GS.TS Khoa Ngôn ngữ học; Giám đốc Trung tâm “Nghiên cứu phát triển Các dân tộc thiểu số – miền núi và Lưu vực sông Hồng”, Đại học Khoa học Xã hôi và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội, Việt Nam)

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

1. Nguyễn Xuân Diện (1998), Giao lưu và hội nhập văn hoá Việt – Mường – Dao ở vùng núi Ba Vì (Hà Tây), Văn hoá dân gian, Số 3, 1998, Tr 87 – 90.

2. Bế Viết Đẳng, Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung, Nguyễn Nam Tiến (1971), Người Dao ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1971.

3. Phạm Quang Hoan, Hùng Đình Quý chủ biên (1999), Văn hoá truyền thống người Dao ở Hà Giang, Nxb Văn hoá Dân tộc, Hà Nội, 1999.

4. Nhiều tác giả (2012),  Cây thuốc người Dao Ba Vì, The Asia Foundation, Hà Nội.

5. Ngọc Thời Giai (2012), Đứt gãy và tự giác văn hóa: Truyền thừa và bảo lưu cổ tịch văn hóa dân gian Dao tộc Việt Nam (khảo sát thôn Sá Séng, xã Tả Phìn, huyện Sa Pa, tỉnh Lao Cai, Kỷ yếu HTQT “Giao lưu văn hóa các dân tộc và phát triển du lịch bền vững lư vực sông Hồng” Lào Cai tháng 11/2012, tr 72-85.

6. Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia (1998), Sự phát triển văn hoá xã hội của người Dao: Hiện tại và tương lai (Kỷ yếu hội thảo), Hà Nội, 1998.

Tin Liên Quan