Lịch sử tiếng Việt và việc giải nghĩa một số từ trong ca dao tục ngữ hiện nay.

Ngày 29 tháng 10 năm 2013, Khoa Ngữ văn Đại học Sư phạm Hà Nội đã tổ chức Hội thảo khoa học “Ngôn ngữ học toàn quốc 2013: Ngôn ngữ và Văn học”. Tham gia hội thảo, cán bộ Trung tâm đã viết bài nhằm  kêu gọi sinh viên Ngữ văn trao dồi kiến thức về Lịch sử tiếng Việt để hiểu và giải nghĩa một số từ cổ trong ca dao tục ngữ hiện nay. Dantocmiennuisonghong.com xin đăng toàn văn bài viết để bạn đọc tham khảo. 

LỊCH SỬ TIẾNG VIỆT VÀ VIỆC GIẢI NGHĨA MỘT SỐ TỪ TRONG CA DAO, TỤC NGỮ HIỆN NAY

                                                                  Trần Trí Dõi

Khoa Ngôn ngữ học, Đại học KH Xã hội và Nhân văn ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Từ khóangôn ngữ, văn hóa, từ nguyên, tục ngữ, ca dao, tiếng Việt

Tóm tắtTrong một số câu ca dao, tục ngữ tiếng Việt hiện nay, có những từ thuần Việt (pure vietnamese word) hay từ cổ (archaic word) không phải nhiều người có thể nhận biết được đầy đủ nét nghĩa của chúng. Do tính chất “cổ xưa” hay tính “phương ngữ” của những từ ngữ ấy, nếu không có những hiểu biết cơ bản về từ nguyên và cùng với từ nguyên là văn hóa người Việt, rất có thể người ta sẽ hiểu chưa đầy đủ về nghĩa của những từ này. Do vậy trong bài viết, trên cơ sở nguyên tắc phân tích từ nguyên cũng như nhận diện đặc điểm văn hóa của những từ thuần Việt, chúng ta sẽ sử dụng tri thức ngôn ngữ – văn hóa như là công cụ góp phần hiểu đúng “nghĩa” của những từ “thuần Việt” hay “cổ xưa” đang có trong ca dao tục ngữ Việt. Qua đó, chúng ta nhận thấy vai trò của việc phân tích từ nguyên cũng như việc nhận diện đặc điểm văn hóa của từ ngữ khi giải nghĩa một số câu ca dao, tục ngữ trong tiếng Việt hiện nay.

Toàn văn.

1. Dẫn luận.

Cũng như trong tất cả ngôn ngữ khác, tục ngữ và ca dao dân ca tiếng Việt luôn là những đơn vị ngôn ngữ chứa đựng đậm đặc nét văn hóa mang đặc trưng bản sắc dân tộc Việt. Những đơn vị ngôn ngữ này có được khả năng như thế là vì chúng vốn là sản phầm được kết tinh từ hàng nghìn năm, phản ảnh và chứa đựng những sinh hoạt ngôn ngữ – văn hóa rất phong phú của cộng đồng người nói tiếng Việt trong suốt chiều dài của lịch sử dân tộc. Và chính vì tính chất lịch đại lâu dài ấy mà nhiều câu tục ngữ, ca dao dân ca tiếng Việt có những từ thuần Việt hay từ cổhoặc đã bị mờ đi nghĩa từ vựng của chúng hoặc đã không lưu giữ nét nghĩa ban đầu. Do vậy, nghĩa từ vựng của một số từ trong những câu ca dao tục ngữ ấy chỉ được “thể hiện” hạn chế ở trong một vài phương ngữ, thậm chí chỉ ở một vài thổ ngữ. Chính vì thế những từ ngữ này trở thành những “từ cổ” hay “từ địa phương”. Có lẽ đây là lý do làm cho không ít người sử dụng ngôn ngữ đương đại khó khăn trong việc nhận biết đúng nghĩa của từ. Từ đó, có tình trạng một số người hiểu chưa đầy đủ (hoặc thậm chí hiểu sai) nội dung những câu tục ngữ và ca dao dân ca tiếng Việt đương đại mà mình gặp phải.

Xuất phát từ tình trạng có thực như thế, đã có không ít người khi đọc nhiều câu ca dao tục ngữ Việt đã hiểu chưa đúng ngôn ngữ trong văn liệu văn học của đời sống dân gian. Tình trạng nói trên gây khó khăn, chẳng hạn, cho việc dịch thuật song ngữ (tiếng Việt – ngoại ngữ), cho việc giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ cho sinh viên nước ngoài, thậm chí người ta bỏ qua không giải thích đúng nghĩa của nó trong một số trường hợp giảng dạy về văn hóa dân gian. Lý do là khi gặp những trường hợp có từ cổ, một số người, do chưa trang bị đủ về từ nguyên học tiếng Việt, thường “đoán định” theo “cảnh huống hiện đại” và bằng lòng với việc “hiểu” nghĩa chung chung của câu tục ngữ và ca dao dân ca mà mình gặp phải nên chưa thể giải thích đầy đủ nghĩa của nó. Chúng tôi nghĩ rằng, đã đến lúc ngôn ngữ học lịch sử cần được chú ý đúng mức để từng bước tránh đi những thiếu xót đáng tiếc đó.

Chúng ta biết rằng, nguyên nhân của tình trạng nói trên là do người đọc chưa được trang bị đủ về từ nguyên học tiếng Việt. Trong khi đó, vấn đề từ nguyên lại là một nội dung ngôn ngữ học khá chuyên sâu, phải vận dụng nhiều thông tin ngôn ngữ học lịch sử vốn không dễ đối với nhiều người. Đứng trước tình hình đó, việc lần lượt góp phần giải thích từ nguyên trong một số câu ca dao tục ngữ Việt hiện nay là điều nên làm. Bởi vì, chỉ có thể làm như thế, chúng ta mới có thể lần lượt giải nghĩa những câu ca dao tục ngữ Việt có những từ cổ, giảm dần tình trạng “khó hiểu” của chúng đối với nhiều người nói tiếng Việt đương đại. Và cách làm như thế chính là mục đích bài viết này của chúng tôi.

                    2. Giải nghĩa một số câu ca dao tục ngữ.

Như đã được sơ bộ trình bày ở trên, dường như có cơ sở để nói rằng trong “giảng dạy về tiếng Việt” người ta thường cung cấp chưa đủ mức cần thiết những “kiến thức từ nguyên hay văn hóa dân tộc qua tiếng Việt” cho người học về ngữ văn Việt. Do vậy, có những “từ cổ” hay “từ địa phương” trong tục ngữ và ca dao dân ca tiếng Việt, vốn là những đơn vị từ ngữ hàm chứa khái quát những tri thức văn hóa của cộng đồng nói tiếng Việt trong lịch sử, đã không có dịp được giải thích một cách căn kẽ. Dưới đây, chúng tôi sẽ lần lượt nêu ra làm ví dụ một số câu cần phải được giải thích về mặt từ nguyên của một vài từ ngữ có trong câu đó.

2.1. Về câu tục ngữ “Người làm răng thì cái săng làm vậy”.

2.1.1. Đây là câu tục ngữ có nguồn gốc từ tiếng địa phương vùng Bắc Trung bộ (Thanh Hóa). Khi chúng tôi có dịp “hỏi” HVCH khoa Ngữ văn Đại học XHNV tp HCM về “nghĩa” của câu này, đã có người giải thích rằng câu tục ngữ ấy nói về “cái răng cái tóc, thể hiện vẻ đẹp hình thức của con người”. Khi giải thích nghĩa câu tục ngữ như trên, HVCH đó cho rằng “làm răng” là từ địa phương tương tự như “làm sao” tiếng toàn dân; còn “cái săng” có lẽ là phát âm địa phương của “cái răng” trong tiếng toàn dân; cho nên câu tục ngữ “Người làm răng thì cái săng làm vậy” có thể được chuyển thành ngôn ngữ đương đại là “Người làm sao thì cái răng làm vậy”. Xuất phát từ cách hiểu đó, cái nghĩa nói về “cái răng cái tóc, thể hiện vẻ đẹp hình thức của con người” được gắn cho nghĩa của câu tục ngữ nói trên. Lối giải thích như vừa được mô tả đã được không ít người đồng tình.

Hiểu câu tục ngữ “Người làm răng thì cái săng làm vậy” như thế là hiểu chưa đúng nghĩa “từ nguyên” của từ “săng” trong đoản ngữ “cái săng”. Câu tục ngữ nói trên nếu khôi phục nguyên dạng ngữ âm địa phương Thanh Hóa phải là “Ngài mần/(làm) răng thì cái săng mần/(làm) rứa”. Đối với người nói tiếng Việt đương đại, khi câu tục ngữ này được khôi phục nguyên dạng tiếng địa phương vùng Bắc Trung bộ như trên thì không phải tất cả những từ ngữ trong câu tục ngữ đều “hiểu được”. Và từ đó chính là trường hợp từ săng trong tổ hợp “cái săng”. Vậy từ săng ở câu tục ngữ ấy là gì? Đó là một câu hỏi mà nếu ai đó chưa có sự hiểu biết về “từ nguyên”, qua đó chưa hiểu về văn hóa Việt Nam, thì người đó sẽ khó có thể hiểu được đầy đủ ý nghĩa của câu tục ngữ.

Trong tiếng Việt đương đại, từ “săng” ở câu tục ngữ vừa kể có nghĩa là cái “quan tài ( )”. Như chúng ta đều biết, trong tiếng Việt hiện đại (thể hiện qua “Từ điển Tiếng Việt” năm 1992 của Hoàng Phê chẳng hạn), cái “quan tài” có những biến thể toàn dân hoặc địa phương khác là cái “áo quan”, cái “hòm” cái “quan”; và từ điển này cũng đã chú giải “săng” là áo quan với ký hiệu (kng) kèm theo, tức là từ “săng” mang tính khẩu ngữ [H.Phê (1992), tr 838]. Tuy nhiên về thực chất, “săng” là một “từ cổ” nghiêng về cách dùng trong “phương ngữ” chứ không phải là một từ dùng trong khẩu ngữ tiếng Việt như từ điển chú giải.

Chứng cớ thể hiện tính chất “cổ xưa” của từ này là khi người ta có thể gặp lại cái nghĩa của từ “săng” như thế trong nhiều câu thành ngữ, tục ngữ khác. Ví dụ, đó là câu thành ngữ tiếng Việt “Bật săng văng tiểu”; là câu tục ngữ “Dùi chạm đục, đục chạm săng”; là câu tục ngữ “Rắn già rắn lột, người già chui tọt vào/vô săng” v.v. Vì thế, câu tục ngữ “Người làm răng thì cái săng làm vậy” sẽ phải được giải thích theo nghĩa “đen” hay nghĩa cụ thể là “Con người ta hình dáng như thế nào thì khi mất sẽ phải làm một cái áo quan như vậy”. Từ nghĩa “đen” ban đầu ấy, câu tục ngữ còn dẫn xuất một nghĩa biểu trưng hay “nghĩa văn hóa” là “Con người có hình thức bên ngoài như thế nào thì tính cách, nội tâm sẽ như thế”. Chỉ khi hiểu được như vậy thì, chẳng hạn, việc chuyển dịch trong dịch thuật song ngữ và việc giảng dạy tiếng Việt nói chung và cho người nước ngoài nói riêng mới “thể hiện” đúng hay đầy đủ nghĩa của câu tục ngữ.

 2.1.2. Việc nhận biết đúng nghĩa của từ “săng” trong câu tục ngữ “Người làm răng thì cái săng làm vậy” mang nghĩa là cái “quan tài” như đã nói đòi hỏi phải nắm bắt cả một tri thức văn hóa của cộng đồng người nói tiếng Việt, là nghĩa “từ nguyên” của từ phản ánh cả một tiến trình lịch sử văn hóa người Việt. Chúng ta đã biết rằng, văn hóa “mồ mả” đối với người Việt là văn hóa được du nhập vào từ văn hóa người Hán. Sự hiện diện trong tiếng Việt các từ Hán Việt cổ  “mồ”, “mả” và từ Hán Việt “mộ” () đều là từ gốc Hán đã xác nhận tình trạng đó. Bởi vì, trước khi cộng đồng người nói tiếng Việt vay mượn “văn hóa mồ mả” giống như người Hán, cộng đồng này đã có “văn hóa an táng” theo cách riêng của mình. Thay vì dùng “quan tài ( )” như người Hán, người Việt dùng một đoạn cây khoét rỗng đặt người chết váo đó để chôn cất người chết. Trong tiếng Việt cổ, đoạn cây được khoét rống đó gọi là săng. Như vậy, nghĩa từ nguyên của săng là “đoạn cây hay đoạn cây được khoét rỗng để đặt người chết vào an táng”.

Chứng cứ nào để chúng ta có thể nhận biết đoạn cây được khoét rỗng đó lại có dạng ngữ âm là săng (IPA: [săŋ]) trong tiếng Việt cổ xưa? Đó chính là kết quả của việc nghiên cứu từ nguyên học tiếng Việt. Bởi vì, khi nghiên cứu ngữ âm lịch sử tiếng Việt, người ta nhận biết dạng ngữ âm [săŋ] trong nhiều ngôn ngữ thuộc nhóm Việt – Mường (group Viet – Mương, hay Vietic) – là nhóm ngôn ngữ cội nguồn của tiếng Việt – dùng để chỉ “cái cây, một khúc gỗ là thân cây”. Những ví dụ so sánh các từ liên quan đến nét nghĩa này trong nhóm ngôn ngữ Việt – Mường đã xác nhận điều đó. Ví dụ, tiếng Việt toàn dân “cây”, tiếng Việt địa phương Quảng Bình, Nghệ Tĩnh, Thanh Hóa săng, tiếng Arem [cirɜŋ] “cây”, tiếng  Mã Liềng [sarâŋ] “cây”, tiếng Pọng [khlăŋ] “cây” v.v.

Chúng ta biết rằng biến đổi ngữ âm trong tiếng Việt với tổ hợp gồm tiền âm tiết cv với âm đầu âm tiết chính r hay lkiểu [cir...], [sar...], [khl…] thành s là thuộc quy luật xát hóa (spirantization) và đã từng được M. Ferlus [M.Ferlus (1878)] và chúng tôi [T.T.Dõi (2011a), (2011b)] chứng minh là một quy luật ngữ âm (phonetic law) hiện hữu trong tiếng Việt. Nhờ theo dõi quy luật biến đổi ngữ âm này, chúng ta biết nghĩa “từ cổ” tiếng Việt săng ban đầu là để chỉ “cây”, hay “đoạn thân câygỗ”; khi đoạn cây được dùng để khâm liệm an táng người chết, “từ cổ” tiếng Việt săng có thêm một nét nghĩa mới là “cái dùng để chôn cất người chết, quan tài”. Nét nghĩa để chỉ “cây”, hay “đoạn thân câygỗ” thấy có trong câu “hát giặm Nghệ Tĩnh” “Thuế săng lim đạ nộp” [N.N. Bản (1999), tr 363]. Trong câu này, tổ hợp săng lim ở đây chỉ có nghĩa là “gỗ lim, cây lim”.

Như vậy, sự chuyển nghĩa của “từ cổ” tiếng Việt săng từ “cây”, hay “đoạn thân câygỗ” sang “quan tài” như vừa mô tả đã hàm chứa những thông tin văn hóa tang lễ vô cùng lý thú trong cộng đồng cư dân nói tiếng Việt. Nói một cách khác đi, những “từ cổ” như thế qua quá trình lịch sử và được lưu giữ trong “từ địa phương” tiếng Việt. Trong những câu thành ngữ, tục ngữ, ca dao có chứa từ săng trở thành ít thông dụng hơn trong từ toàn dân. Từ săng trong câu tục ngữ “Người làm răng thì cái săng làm vậy” cũng thuộc tình trạng như thế và nó là một ví dụ về từ ngữ có chứa đựng những nội dung phong phú về lịch sử văn hóa của cộng đồng người nói tiếng Việt. Ở đây nó cho chúng ta thấy mối quan hệ khăng khít giữa ngôn ngữ và văn hóa mà nếu thiếu đi tri thức “từ nguyên học”, người nói tiếng Việt đương đại khó có thể hiểu đầy đủ ngay từ ngữ của mình.

2.2. Về câu tục ngữ  “Trăng mờ tốt lúa nỏ, trăng tỏ tốt lúa sâu”.

2.2.1. Câu tục ngữ nói trên, khác với trường hợp từ săng ở câu tục ngữ “Người làm răng thì cái săng làm vậy”, là một ví dụ về mối qua hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa thể hiện trong “kinh nghiệm canh tác nông nghiệp” của cộng đồng người nói tiếng Việt đã tích lũy được. Để thấy rõ mối quan hệ ấy, ở đây chúng ta cần hiểu đúng nghĩa của từ “nỏ” là một “từ cổ” hay từ “địa phương” thuộc địa hạt văn hóa “thời tiết và mùa vụ trong canh tác nông nghiệp” mà không phải người dùng tiếng Việt đương đại nào cũng có thể dễ dàng hiểu được.

Trong từ điển tiếng Việt hiện đại, từ tính từ “nỏ” này được giải nghĩa là “Khô đến mức như không còn một chút chất nước nào cả” [H.Phê (1992), tr 725]. Với nét nghĩa đương đại như thế, câu tục ngữ “Trăng mờ tốt lúa nỏ, trăng tỏ tốt lúa sâu” đương nhiên sẽ được người dùng tiếng Việt hiện nay hiểu thành “Trăng mờ tốt lúa khô, trăng tỏ tốt lúa sâu”. Nhưng ngay khi hiểu như thế, chẳng hạn khi dịch sang tiếng nước ngoài, nên hiểu nghĩa từ “nỏ/khô” như thế nào cho phù hợp với toàn bộ nghĩa của câu tục ngữ ấy? Rõ ràng, nếu chỉ hiểu nét nghĩa đương đại như từ điển đã giải nghĩa về từ “nỏ” mà không chú ý đến “từ nguyên” ban đầu của nó, có lẽ, chúng ta vẫn chưa hiểu hết nét nghĩa cần hiểu của câu tục ngữ nói về kinh nghiệm sản xuất ấy của người Việt.

2.2.2. Thực ra, theo chúng tôi, muốn hiểu đúng câu tục ngữ “Trăng mờ tốt lúa nỏ, trăng tỏ tốt lúa sâu” câu tục ngữ này phải được đặt trong mối quan hệ “thời tiết và mùa vụ” thuộc kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp của người Việt [B.H. Đáp (1999) tr 23-43]. Theo đó, người Việt có kinh nghiệm “Lúa tháng Năm trông trăng rằm tháng Tám/Cày ruộng tháng Năm, xem trăng rằm tháng Tám”; và nội dung kinh nghiệm đó sẽ được tổng kết là “Trăng mờ tốt lúa nỏ, trăng tỏ tốt lúa sâu” hoặc “Quầng hạn tán mưa/Trăng quầng thì hạn, trăng tán thì mưa”. Như vậy, theo kinh nghiệm “thời tiết và mùa vụ” của người Việt, muốn đoán định “thời tiết vụ tháng Năm tới, phải quan sát trăng rằm tháng Tám năm nay” và sẽ có tới 04 kiểu loại trăng là “mờ, tỏ, quầng và tán” thể hiện “thời tiết” của mùa màng.

Đặt từ “nỏ” của câu tục ngữ “Trăng mờ tốt lúa nỏ, trăng tỏ tốt lúa sâu” trong mối tương quan ấy, có lẽ, hiểu nghĩa “lúa nỏ” với nghĩa “lúa khô” là chưa hiểu hết về từ nguyên của từ. Theo chúng tôi, câu tục ngữ này phải được chuyển thành “Trăng mờ tốt lúa (ruộng) cạn, trăng tỏ tốt lúa (ruộng) sâu”; điều này có nghĩa là khi “xem trăng rằm tháng Tám” nếu trăng có trạng thái “mờ” thì “thời tiết vụ tháng Năm tới” sẽ tốt khi làm ruộng “cạn” và ngược lại trăng có trạng thái “tỏ” thì “thời tiết vụ tháng Năm tới” sẽ tốt cho việc canh tác ruộng “sâu”. Như vậy, nghĩa của tính từ “nỏ” trong tiếng Việt còn có một nghĩa từ nguyên nữa là “nơi ruộng cạn”, trái với nghĩa “ruộng sâu” mà câu tục ngữ nói trên đã thể hiện.

2.3. Về câu tục ngữ “Tháng giêng rét đài, tháng hai rét lộc, tháng ba rét nàng Bân”.

2.3.1. Đối với câu tục ngữ thứ ba này, việc hiểu nghĩa từ nguyên của tổ hợp “nàng Bân” là rất quan trọng. Nói khác đi, nếu không hiểu nghĩa từ nguyên của nó, khi giải nghĩa câu tục ngữ về thời tiết “Tháng giêng rét đài, tháng hai rét lộc, tháng ba rét nàng bân” thì người nói tiếng Việt đương đại chỉ có thể nói rằng “ rét nàng bân” là rét vào tháng Ba Âm lịch. Nếu vậy, phải hiểu thời tiết ba tháng sau tết Âm lịch thì “tháng Giêng” rét để đánh dấu cây “ra đài (chổi)”, “tháng Hai” rét để đánh dấu chồi cây “ra lộc (lá non)”; còn “tháng Ba” rét để đánh dấu “cái gì”?

Đối với người nói tiếng Việt, ai đã đọc câu chuyện cổ tích “Rét nàng Bân” thì sẽ hiểu nội dung văn hóa nghĩa từ nguyên của từ này. Nhưng có một câu hỏi là tại sao trong tiếng Việt, từ chỉ đợt rét tháng Ba Âm lịch lại là “nàngBân” chứ không phải là một tên gọi nào khác (ví dụ như “nàng ngân” hay “nàng bến” hoặc “nàng hoa” nào đó chẳng hạn)? Để trả lời cho câu hỏi vừa nêu ra, nhất thiết chúng ta phải hiểu từ nguyên của từ “Bân” trong tổ hợp “nàng Bân” liên quan đến văn hóa người Việt. Mà muốn làm được điều đó, người sử dụng ngôn ngữ phải có tri thức về lịch sử tiếng Việt. Bởi vì, khi có tri thức về lịch sử tiếng Việt, chúng ta nhận ra ngay tổ hợp “nàng Bân” là một trường hợp tiếng Việt vay mượn từ ngôn ngữ Thái. Chúng ta biết rằng trong lịch sử giữa cộng đồng tộc người (ethnic) nói tiếng Việt thuộc họ Nam Á (Austroasiatic) và cộng đồng tộc người nói những ngôn ngữ Thái thuộc họ Thái – Kađai (Tai – Kadai) ở Việt Nam nói riêng và Đông Nam Á nói chung có một mối quan hệ văn hóa chặt chẽ.

2.3.2. Sở dĩ những người có tri thức về lịch sử tiếng Việt nhận ra sự vay mượn này là nhờ trong câu chuyện cổ tích “Rét nàng Bân”, dân gian cho biết có rét lại vào tháng Ba Âm lịch là do người phụ nữ may áo cho chồng vốn là “con gái của Trời”. Mà trong một số ngôn ngữ Thái – Kađai như tiếng Tày, tiếng Nùng hay tiếng Choang/Tráng (Zhuang), từ để chỉ “Trời” hay “bầu trời” có dạng ngữ âm là bân hay fân/bơn (IPA: [bən/fən]). Khi người Việt và người nói một số ngôn ngữ Thái cộng cư, câu chuyện dân gian vốn là của những người nói những ngôn ngữ Thái – Kađai này đã du nhập vào cộng đồng người nói tiếng Việt. Và những người nói tiếng Việt đã “phiên âm” từ có nghĩa “trời” của ngôn ngữ Thái – Kađai thành “bân”; đồng thời danh từ chung vốn chỉ “Trời” hay “bầu trời” trở thành tên riêng của “con gái Trời”. Vậy là, nghĩa từ nguyên của “nàng Bân” ban đầu là “con gái Trời” nhờ sự giao lưu văn hóa trong lịch sử giữa hai cộng đồng người nói tiếng Việt và cộng đồng người nói những ngôn ngữ Thái – Kađai ở Việt Nam mà chỉ còn lại nét nghĩa “rét tháng Ba, đợt rét cuối cùng”.

                3. Một vài thảo luận.

Ở trên, chúng tôi xin nêu ra ba ví dụ về “nghĩa từ nguyên” của những “từ cổ” hay là “từ địa phương” đang được lưu giữ trong những câu tục ngữ, ca dao dân ca đương đại chứa đựng những nội dung văn hóa Việt thật phong phú và hấp dẫn. Rõ ràng, nếu chưa được cung cấp đầy đủ tri thức về lịch sử tiếng Việt, có lẽ, còn có người nói tiếng Việt đương đại sẽ chưa hiểu hết nghĩa của những câu tục ngữ ca dao ấy. Chúng tôi gọi những trường hợp từ như thế là những “từ văn hóa” (cultural words) trong tiếng Việt. Không còn nghi ngờ gì nữa, những “từ văn hóa” này sẽ được giải nghĩa đầy đủ khi chúng ta được cung cấp tri thức về lịch sử tiếng Việt; và khi được giải nghĩa một cách tường minh chúng sẽ cho chúng ta thấy mối quan hệ khăng khít giữa ngôn ngữ và văn hóa trong đời sống hàng ngày của cộng đồng người nói tiếng Việt.

Như vậy, chúng tôi đặt ra vấn đề là muốn giải nghĩa những “từ văn hóa” ấy một cách đầy đủ, người ta phải hiểu biết không chỉ về lịch sử văn hóa Việt mà nhất thiết phải hiểu biết về lịch sử tiếng Việt nói chung và đặc biệt là ngữ âm lịch sử tiếng Việt. Điều đó cũng có nghĩa là, chúng ta cần chú ý cung cấp kiến thức chuyên ngành này cho những người học về ngôn ngữ (cả người học tiếng Việt lẫn tiếng nước ngoài). Nếu không, sẽ có hiện tượng nhiều người đã học “ngôn ngữ học” nói tiếng Việt đương đại mà không hiểu hết những câu thành ngữ, tục ngữ, ca dao và dân ca tiếng Việt khi trong những câu ấy có những từ văn hóa trở thành “từ cổ” hay  “từ địa phương”.

Có thể nói rằng “từ cổ” hay “từ địa phương” trong những câu thành ngữ, tục ngữ, ca dao và dân ca tiếng Việt chứa đựng cả một kho tàng văn hóa Việt. Khi tìm hiểu chúng, chúng ta không chỉ nhận biết mối quan hệ biện chứng giữa ngôn ngữ và văn hóa mà khi ấy tri thức văn hóa của người sử dụng tiếng Việt sẽ ngày thêm phong phú. Điều đó chắc chắn sẽ giúp chúng ta thực hành “dụng học tiếng Việt” ở một chất lượng khác cao hơn.

Chử Đồng Tử ( tranh từ Internet)

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH.

- Nguyễn Nhã Bản chủ biên (1999), Từ điển tiếng địa phương Nghệ – Tĩnh, Nxb Văn Hoá Thông Tin, Hà Nội 1999, 459 tr

- Nguyễn Tài Cẩn (1995), Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt (Sơ thảo), Nxb Giáo dục, Hà Nội 1995, 348 tr .

- Nguyễn Tài Cẩn (2001), Một số chứng tích về ngôn ngữ, văn tự và văn hoá, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 439 tr

- Trần Trí Dõi (2001), Ngôn ngữ và sự phát triển văn hoá xã hội, Nxb Văn Hoá Thông Tin, Hà Nội 2001.

- Trần Trí Dõi (2010), Thử tìm hiểu cách Hán Việt hóa tên riêng trong truyện cổ dân gian Việt: trường hợp truyện “Sự tích trầu cau”, Ngôn ngữ, 11(258)/11-2010, tr1-8.

- Trần Trí Dõi (2011a),  Một vài vấn đề nghiên cứu so sánh lịch sử nhóm ngôn ngữ Việt – Mường, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội 2011, 375tr

- Trần Trí Dõi (2011b), Giáo trình lịch sử tiếng Việt, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội 2011, 271 tr

- Trần Trí Dõi (2011c), Khái niệm từ thuần Việt và từ ngoại lai từ góc nhìn của lịch sử tiếng Việt hiện nay, Ngôn ngữ, 11(270)/11- 2011, tr 8-15.

- Trần Trí Dõi (2013), Tên gọi thánh “Dóng” và lễ hội “Phù Đổng”: góc nhìn từ ngữ âm lịch sử tiếng Việt, Ngôn ngữ, số 2(285)/2013 tr 3-10

- Bùi Huy Đáp (1999), Ca dao tục ngữ với khoa học nông nghiệp, Nxb Đà Nẵng, 147 tr.

- Ferlus M. (1978), Sự biến hoá của các âm tắc giữa (obstruentes mediales) trong tiếng Việt, Ngôn ngữ  n0 2/1981, tr 1 – 22.

- Hoàng Phê chủ biên (1992), Từ điển tiếng Việt, Trung tâm từ điển ngôn ngữ, Hà Nội – Việt Nam 1992, 1147 tr.

- Nguyễn Đức Tồn (2008), Đặc trưng văn hóa – dân tộc của ngôn ngữ và tư duy, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.

- William A. Foley (2001), Anthropological Linguistics: An Introduction, Foreign Language Teaching and Research Press and Blackwell Publishers Ltd, Beijing.

Email: doihanh@yahoo.com

Tin Liên Quan