Thảo luận về vấn đề mù chữ và tái mù chữ: tiêu chí nhận diện trong hoạt động giáo dục ở Việt Nam

Hội thảo KH “Ngữ học toàn quốc 2013”, Đại học Ngoại ngữ Huế, 26.4.2013

THẢO LUẬN VỀ VẤN ĐỀ MÙ CHỮ VÀ TÁI MỦ CHỮ:

TIÊU CHÍ NHẬN DIỆN TRONG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM

                                                                    Trần Trí Dõi, GS.TS

                                                                        Khoa Ngôn ngữ học, Đại học KHXH và NV

                                                                         (Đại học Quốc gia Hà Nội)

Từ khóa: mù chữ, tái mù chữxóa mù chữ, nguồn nhân lực, giáo dục.

Tóm tắt: Hiện tượng mù chữ (illiteracy) và tái mù chữ (reilliteracy) là một tình trạng xã hội không chỉ có ở Việt Nam mà có ở nhiều quốc gia trên thế giới. Cho nên, trong ngôn ngữ học xã hội và ở những quốc gia khác nhau, có những cách quan niệm khác nhau về nội dung của hai khái niệm này. Bài viết, trên cơ sở phân tích chính sách của nhà nước Việt Nam trong hoạt động giáo dục ngôn ngữ để thực hiện nhiệm vụ xóa mù chữ từ năm 1945 đến nay, xác lập lại tiêu chí nhận diện về hai khái niệm nói trên gắn liền với thực tiễn xã hội của Việt Nam. Việc làm đó là cần thiết nhằm cung cấp tiêu chí làm công cụ để góp phần cùng ngành giáo dục thực hiện nhiệm vụ xóa mù chữ ở Việt Nam trong công cuộc phát triển đất nước.

Toàn văn

1. Dẫn nhập

Ngày 19 tháng 12 năm 2006 tại Hà Nội, Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ GD&ĐT) tổ chức hội nghị triển khai dự án “Phát triển chiến lược hệ thống nguồn lực hỗ trợ sáng kiến nâng cao năng lực xóa mù chữ tại Việt Nam” (viết tắt là LIFERSS). Tại hội nghị này, Bộ GD&ĐT cho biết Việt Nam hiện nay không chỉ có hiện tượng mù chữ (illiteracy) mà còn có cả hiện tượng tái mù chữ (reilliteracy). Đây là một thực trạng đang được nhà nước Việt Nam nói chung và Bộ GD&ĐT nói riêng quan tâm để giải quyết. Bởi vì, hiện tượng mù chữ, tái mù chữ nếu vẫn hiện hữu ở một quốc gia mà không bị đẩy lùi thì nó sẽ có những ảnh hưởng không tốt đến nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực lao động, nhất là trong thời kỳ mà nước Việt Nam đang hướng đến để xây dựng một nền kinh tế Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa. Tình trạng đó, như vậy, rõ ràng có tác động tiêu cực đến sự phát triển kinh tế – xã hội của một quốc gia nên người ta phải tìm cách từng bước xóa bỏ nó.

Trong tình hình như thế, việc làm rõ khái niệm mù chữ và tái mù chữ được sử dụng ở Việt Nam là một việc làm cần thiết. Điều đó có nghĩa là hiện tượng ngôn ngữ học xã hội đang được bàn đến, về mặt bản chất, phải được xác định trong mối tương ứng với cảnh huống ngôn ngữ của xã hội mà nó tồn tại. Có như vậy, hoạt động để xóa mù chữ mới đảm bảo sự phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của một quốc gia đang hiện hữu hiện tượng này.

2. Quan niệm về “mù chữ” và “tái mù chữ” ở Việt Nam.

Trong cuốn “Từ điển tiếng Việt” của Viện Ngôn ngữ học (do Hoàng Phê chủ biên), mục từ “mù chữ” được giải thích là tình trạng: “Không biết đọc, biết viết (tuy ở tuổi đáng lẽ đã được học)” [Viện Ngôn ngữ học (1992), tr 642]. Theo nội hàm định nghĩa như thế, khái niệm “mù chữ” ở đây được xác định là “những người đến tuổi đi học mà khôngbiết đọckhông biết viết thì là những người mù chữ”. Do đó, có thể khẳng định nội dung của khái niệm gắn liền với họat động giáo dục (đi học và dạy học). Theo đó, những người ở độ tuổi đi học mà “không biết đọckhông biết viết” thì sẽ là những người “mù chữ”.

Như vậy, theo định nghĩa của “Từ điển tiếng Việt”, hợp thành khái niệm mù chữ sẽ bao hàm hai nội dung làm thành tiêu chí nhận diện là không biết đọc và không biết viết. Nhưng với hai nội dung trên, rõ ràng, cách hiểu về mù chữ là chưa phản ánh được hết nội hàm của khái niệm này. Bởi vì, nếu xác định khái niệm “mù chữ” đồng nghĩa với khái niệm “không biết chữ”, người ta sẽ thấy hai nội dung “không biết đọckhông biết viết” sẽ không hoàn toàn tương ứng với khái niệm “không biết chữ”. Bởi vì, khái niệm “biết chữ” (literacy) phải là biết đọcbiết viết và phải hiểuâm/chữ mình đọc được (tức là hiểu chữ). Theo đó, khái niệm “không biết chữ” theo logic sẽ là sự phủ định khái niệm “biết chữ”. Tuy nhiên, trong thực tế định nghĩa khái niệm “biết chữ” không phải là một công việc đơn giản. Bởi vì người ta phải xem xét nó trong mối quan hệ với những hiện tượng xã hội khác và tùy theo hoàn cảnh của mỗi quốc gia và thích ứng với từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Vì thế, có thể nói khái niệm “mù chữ” trong một mức độ nhất định phụ thuộc vào chính sách giáo dục của một nhà nước cụ thể.

2.1. Về khái niệm “mù chữ” ở Việt Nam.

Ở Việt Nam, sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước đã phát động một phong trào “Bình dân học vụ” để xóa nạn mù chữ. Tuy nhiên, lúc đó nội dung của khái niệm “mù chữ” chưa được xác định một cách tường minh. Chỉ đến năm 1956, nội dung của khái niệm này mới xuất hiện trong văn bản hành chính chính thức của nhà nước. Theo đó, một người được xem là biết chữ (tức là đã “xóa mù chữ”/“thoát nạn mù chữ”) khi người đó có trình độ tương đương với trình độ đi học lớp 1 đến lớp 3 của cấp tiểu học (trong hệ thống giáo dục phổ thông 10 năm trước đây). Tiêu chuẩn này đã được ghi ở Điều 1 trong Quyết định 317/QĐ ngày 26/5/1956 của Bộ Giáo dục. Nội dung cụ thể của quyết định ấy là như sau:

“Điều 1- Được coi là đã thoát nạn mù chữ những người có trình độ đọc và viết chữ quốc ngữ như sau:

Đọc: đọc chữ viết, chữ in không phải đánh vần từng tiếng và đọc được đúng các con số có hàng nghìn.

Viết: viết chính tả một bài dài độ 80 tiếng trong 45 phút, không mất nhiều lỗi và biết viết các con số có hàng nghìn

Điều 2 - Các dân tộc Miền núi đã có văn tự riêng mà đọc, viết chữ dân tộc đến trình độ quy định ở trên thì được công nhận là đã thoát nạn mù chữ”.

Có thể thấy, tiêu chuẩn nói trên đã tập trung làm rõ ở hai nội dung là đọc và viết. Nó có thể phù hợp với mặt bằng dân trí lúc đó bởi nền giáo dục Việt Nam thời kỳ ấy phấn đấu để phổ cập giáo dục tiểu học (lớp 1- lớp 4) cho toàn dân. Điều cần chú ý là, ở Quyết định này của Bộ Giáo dục, người dân tộc thiểu số nếu “đọc, viết chữ dân tộc đến trình độ quy định ở trên” thì cũng được coi như là “biết chữ”, tức không mù chữ. Như vậy, tinh thần cơ bản trong Quyết định 317/QĐ ngày 26/5/1956 của Bộ Giáo dục cho biết những người “mù chữ” là những người “không biết chữ”, tức không đạt trình độ tương đương với lớp 3 Tiểu học.

Có thể xác nhận rằng, trên nguyên tắc, tiêu chuẩn về “biết chữ” được Bộ Giáo dục công bố năm 1956 vẫn được áp dụng cho đến tận ngày nay. Chúng ta có thể nói như thế là căn cứ vào nội dung của Thông tư  số 14 – GDĐT ngày 5 tháng 8 năm 1997 hướng dẫn về “Tiêu chuẩn và thể thức kiểm tra, đánh giá kết quả chống mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học” ở Việt Nam, Quyết định số 13/2007/QĐ-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành “Chương trình xóa mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ” và Quyết định số 79/2008/QĐ-BGDĐT ngày 30 tháng 12 năm 2008 “Quy định đánh giá và xếp loại học viên học Chương trình xoá mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ”.

Cụ thể, nội dung liên quan đến  tiêu chuẩn về “biết chữ” của Thông tư số 14 – GDĐT là như sau: “1. Đối với cá nhân:

            Người được công nhận biết chữ phải được kiểm tra công nhận hết mức 3 chương trình chống mù chữ (hoặc hết lớp 3 Tiểu học)”.

            Còn nội dung của Quyết định số 13/2007/QĐ-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về “Chương trình xóa mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ” là: “Chương trình xóa mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ bao gồm hai giai đoạn:

            Giai đoạn I: Xóa mù chữ (Lớp 1, 2, 3)

            Giai đoạn này (gồm 3 môn học: Tiếng Việt, Toán, Tự nhiên và Xã hội) dành cho những người chưa đi học bao giờ, bỏ học giữa chừng lớp 1, 2, 3 hoặc những người mù chữ trở lại.

            Giai đoạn II: Giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ (Lớp 4, 5)

            Giai đoạn này (gồm 4 môn học: Tiếng Việt, Toán, Lịch sử và Địa lý, Khoa học) dành cho những người mới được công nhận biết chữ hoặc những người bỏ học giữa chừng ở lớp 4, lớp 5.”

            Và ở Quyết định số 79/2008/QĐ-BGDĐT ngày 30 tháng 12 năm 2008 “Quy định đánh giá và xếp loại học viên học Chương trình xoá mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ”, nội dung “xóa mù chữ” được xác định như sau:

            “1. Học viên học hết chương trình lớp 3 và được xếp loại học lực đạt yêu cầu thì được Thủ trưởng các cơ sở giáo dục tổ chức lớp học xóa mù chữ xác nhận vào học bạ: Xác nhận biết chữ”.

Ngoài những tiêu chuẩn được nêu ra như trên, những Quyết định hay Thông tư của Bộ GD&Đ cũng nêu ra một số tiêu chí bổ sung thêm để xác định đối tượng mù chữ. Theo đó, những tiêu chuẩn bố sung gồm có: a, – Những người đã học từ lớp 1-3 tiểu học mà bỏ học giữa chừng thì phải được xem là người mù chữ. Tiêu chuẩn này là để phân biệt số học sinh ở tuổi tiểu học vẫn đang đi học và số người ở độ tuổi đến trường nhưng không đến trường. b,- Những người tự học (chưa bao giờ đến trường) mà không đạt trình độ tương đương với lớp 3 tiểu học thì cũng được coi là người mù chữ. c,- Những người đã học đến lớp 5 nhưng khi kiểm tra thì lại không có trình độ lớp 3-5 tiểu học thì được xem là người tái mù chữ. Điều này có phần khác với quan niệm cho rằng, tái mù chữ là người không còn giữ nguyên trình độ như lúc đầu đã được đào tạo ở bất kỳ cấp học nào.

Rõ ràng, như vậy tiêu chuẩn đánh giá người biết chữ sau năm 1956, về cơ bản, cũng không có gì thay đổi so với Quyết định 317/QĐ ngày 26/5/1956 của Bộ Giáo dục. Tiêu chuẩn đánh giá người biết chữ trong thời kỳ này được xem là tương đương với người đã “đủ kiến thức” lớp 3 bậc tiểu học. Cái khác là nó nằm trong mối quan hệ với mặt bằng giáo dục ở mức cao hơn. Đó là hệ thống giáo dục Tiểu học gồm 5 lớp (lớp 1- lớp 5) và là thời kỳ nước ta đã phổ cấp giáo dục bậc Tiểu học. Có thể nói, tiêu chuẩn xác định và đánh giá người biết chữ hay mù chữ như thế là dựa trên tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục của nước Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Một điều cần chú ý là, những Quyết định và Thông tư đã ban hành của Bộ  GD&ĐT không chỉ giới hạn ở vấn đề “mù chữ” đối với chữ quốc ngữ, hiểu rộng ra là “mù chữ” tiếng Việt – ngôn ngữ “phổ thông” của quốc gia. Những văn bản của Bộ còn đề cập đến vấn đề “mù chữ” liên qua đến chữ viết của ngôn ngữ các dân tộc thiểu số. Theo đó, như “Điều 2” trong Quyết định 317/QĐ ngày 26/5/1956 của Bộ Giáo dục đã ghi rõ  “Các dân tộc Miền núi đã có văn tự riêng mà đọc, viết chữ dân tộc đến trình độ quy định ở trên thì được công nhận là đã thoát nạn mù chữ”. Rõ ràng, như tinh thần của quyết định này, người Việt Nam (trong đó chủ yếu là người dân tộc thiểu số) nếu đọc, viết chữ dân tộc đến trình độ quy định như đối với chữ “quốc ngữ” thì cũng có thể coi là người đã xóa được mù chữ. Như vậy, ở Việt Nam, nếu chỉ giới hạn ở vấn đề “mù chữ” quốc ngữ là chưa thấy hết đặc điểm cảnh huống ngôn ngữ của một xã hội đa dân tộc.

2.2.Về khái niệm “tái mù chữ” ở Việt Nam.

            Trong hoạt động giáo dục ở Việt Nam, người ta chưa quan tâm đúng mức tới vấn đề người “bỏ học” nên thường quên đi đến mức độ nào thì được coi là “tái mù chữ”. Thêm vào đó, người ta cũng chưa coi việc chống “tái mù chữ” như là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong việc thực thi chính sách giáo dục. Cho nên vào thời điểm hiện nay, trong hoạt động giáo dục ngôn ngữ, hầu như chưa có một tài liệu nào bàn về vấn đề “tái mù chữ” một cách khoa học và có hệ thống. Tình trạng ấy đến mức, trong nhiều cuốn “Từ điển tiếng Việt” hiện nay, khái niệm “tái mù chữ” vẫn chưa có riêng một mục từ. Có lẽ sự thờ ơ, không quan tâm của giới chuyên môn đến hiện tượng này khiến cho ở Việt Nam tuy tình trạng “tái mù chữ” có xu hướng gia tăng trong xã hội nhưng tiêu chí nhận diện nó còn chưa được minh định.

Căn cứ vào những nội dung của những Quyết định và Thông tư về xóa mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ của Bộ GD&ĐT, chúng ta có thể hiểu “tái mù chữ” là hiện tượng “mù chữ” trở lại. Điều đó có nghĩa là những người “biết chữ”, do không tiếp tục được thụ hưởng giáo dục sau khi biết chữ, đã không còn giữ được những kiến thức đã học ở thời kì trước. Cụ thể, họ không còn “biết đọc, biết viết” tương đương với trình độ lớp 3 Tiểu học và khi ấy họ là “những người mù chữ trở lại” như cách gọi của Quyết định số 13/2007/QĐ-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Như vậy, người “tái mù chữ” ở Việt Nam sẽ là những người đã từng được xác nhận là “biết đọc, biết viết” (tương đương với trình độ lớp 3 Tiểu học) nhưng sau đó không lưu giữ được khả năng này nữa.

3. Những khác biệt về tiêu chí “ mù chữ” và “tái mù chữ” ở Việt Nam và thế giới.

Như chúng tôi đã nói ở trên, tình trạng mù chữ và tái mù chữ  là hiện tượng của ngôn ngữ học xã hội nên, về mặt bản chất, nó phải được xác định trong mối tương ứng với cảnh huống ngôn ngữ của xã hội mà nó tồn tại. Điều này có nghĩa là người ta sẽ phải xem xét nó trong mối quan hệ với những hiện tượng xã hội tùy theo hoàn cảnh của mỗi quốc gia và thích ứng với từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Vì thế, khái niệm “mù chữ” và “tái mù chữ” trong một mức độ nhất định phụ thuộc vào chính sách giáo dục của một nhà nước cụ thể. Do đó, giữa Việt Nam và thế giới sẽ có những khác biệt về tiêu chí nhận diện tình trạng này.

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liện hiệp quốc (UNESCO) đã từng đưa ra định nghĩa về “biết chữ” là: “Sự biết viết, sự biết đọc hay khả năng biết đọc, biết viết là khả năng nhận biết, hiểu, sáng tạo, truyền đạt, tính toán và dùng chữ được in ra và viết ra liên kết cùng với văn cảnh khác nhau”. Theo nội dung “biết chữ” như vậy, chúng ta nhận biết tổ chức này đã xác định khái niệm “mù chữ” là sự phủ định nội dung “biết chữ” được thể hiện ở trên. Đó là tình trạng người không  “khả năng nhận biết, hiểu, sáng tạo, truyền đạt, tính toán và dùng chữ được in ra và viết ra liên kết cùng với văn cảnh khác nhau”. Và gần đây, Liên Hiệp Quốc đã định nghĩa lại khái niệm mù chữ trong hoàn cảnh xã hội hiện nay. Theo đó, “mù chữ” được phân thành nhiều kiểu khác nhau gồm: a,- Loại thứ nhất là những người không biết chữ, không đọc sách được; b,- Loại thứ hai là những người không phân biệt được những phù hiệu, tín hiệu xã hội hiện đại (ví dụ như bảng đèn hiệu giao thông, biển báo nhà vệ sinh nam, nữ v.v.); c; – Loại “mù chữ” thứ ba là những người hiện không biết sử dụng máy tính để học tập, giao lưu trao đổi, quản lý v.v (Nguồn:http://vi.wikipedia.org/wiki/Biết chữ, ngày 20.01.2013).

Như vậy, trong ba kiểu mù chữ nói trên, loại mù chữ thứ hai và thứ ba bị coi là mù chữ về tính năng. Bởi lẽ, người ta tuy đã được tiếp nhận giáo dục nhưng về phương diện thường thức khoa học – kỹ thuật hiện đại, họ lại thiếu năng lực thực hành giống như hiện tượng hay tình trạng mù chữ trước đây. So sánh với những tiêu chí mà Bộ GD&ĐT Việt Nam xác định, rõ ràng, tiêu chí “ mù chữ” và “tái mù chữ” ở Việt Nam có sự khác biệt với tiêu chí của thế giới do Liên Hiệp Quốc đưa ra. Tuy có sự khác biệt nhưng nó phù hợp với trình trạng xã hội hiện nay của Việt Nam và nó là loại mù chữ theo nghĩa “truyền thống”.

4. Kết luận

Như vậy, chúng tôi đã trình bày sơ qua một số nét chung nhất về hiện tượng “mù chữ”, “tái mù chữ” và tiêu chuẩn đánh giá người “mù chữ” ở Việt Nam. Theo đó người không “mù chữ” là những người đã “đủ kiến thức (biết đọc, biết viết)” tương đương với lớp 3 bậc tiểu học cả về chữ quốc ngữ và chữ viết các dân tộc. Đây, như vậy, là những vấn đề liên quan đến chỉ số giáo dục trong hệ thống giáo dục của quốc gia. Còn hiện tượng “tái mù chữ” là những người đã từng đạt mức độ “không mù chữ” bị “mù chữ” trở lại. Hai nội dung ấy rõ ràng có liên quan mật thiết với nhau. Chính vì thế trong hoạt động giáo dục, việc xóa mù chữ đồng thời phải được tiến hành kết hợp với việc chống tái mù chữ.

Trong thời điểm hiện nay, chấp nhận khái niệm “mù chữ” và “tái mù chữ” ở Việt Nam như thế là một thực tế. Trên cơ sở ấy, chúng ta xây dựng các chỉ số để nhận biết những hiện tượng này trong cộng đồng dân cư. Từ đó, chúng ta sẽ xây dựng nội dung và các biện pháp xóa mù chữ và chống tái mù chữ một cách có hệ thống trong chương trình giáo dục quốc gia.

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH.

1- Bộ Giáo dục (1956), Quyết định 317/QĐ ngày 26/5/1956 của Bộ GD

2- Bộ Giáo dục và Đào tạo (1997), Thông tư  số 14 – GDĐT ngày 5 tháng 8 năm 1997 của Bộ GD&ĐT

3- Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Quyết định số 13/2007/QĐ-BGD&ĐT của Bộ GD&ĐT

4- Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Quyết định số 79/2008/QĐ-BGDĐT ngày 30 tháng 12 năm 2008 của Bộ GD&ĐT

5- Trần Trí Dõi (2003), Thực trạng giáo dục ngôn ngữ ở vùng dân tộc miền núi ba tỉnh phía bắc Việt Nam – Những kiến nghị và giải pháp, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội 2003.

6- Phạm Minh Hạc (2003), Về giáo dục,  Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2003.

7- Vũ Đình Hòe (2012), Nguyễn Công Mỹ Tư lệnh chiến dịch diệt giặc dốt, Xưa &Nay số 418 tháng 12 năm 2012, tr 16-18.

8- Nguyễn Đình Hương (2009), Việt Nam hướng tới nền giáo dục hiện đại, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội 2009.

9- Nguyễn Văn Khang (2012), Ngôn ngữ học xã hội, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội 2012.

10- Viện Ngôn ngữ học (1992), Từ điển tiếng Viêt, Trung tâm Từ điển ngôn ngữ, Hà Nội 1992.

11- Viện Ngôn ngữ học (2010) : Tình hình mù chữ, tái mù chữ và vấn đề xóa mù chữ ở Việt Nam trong thời kỳ hiện đại hóa, công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế, Đề tài NCKH cấp Bộ do TS Phạm Tất Thắng chủ trì (nghiệm thu năm 2010), 235 tr A4.

12-  http://vi.wikipedia.org/wiki/Biết chữ, (truy cập ngày 20.01.2013).

 Hà nội, 21.01.2013

Tin Liên Quan