Về vấn đề xóa mù chữ ở vùng dân tộc thiểu số.

Ngày 25-26/10/2013, tại Hà Nội,  trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQG Hà Nội) đã tổ chức Tọa đàm khoa học Quốc tế “Tôn giáo và văn hóa: một số vấn đề lý luận và thực tiễn (Religion and Culture: Somme theoretical and practical issure)”. Cán bộ của trung tâm đã có bài trình bày ở tiểu ban V. Dantocmiênnnuisonghong.com xin đăng toàn văn bài viết dưới đây để bạn đọc tham khảo.

VẤN ĐỀ XÓA MÙ CHỮ VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ: SUY NGHĨ VỀ TRƯỜNG HỢP BẢN NGƯỜI MÔNG PÚ TỬU HUYỆN MƯỜNG ẢNG TỈNH ĐIỆN BIÊN

Trần Trí Dõi!

Từ khóa: xóa mù chữ, dân tộc thiểu số, tiếng mẹ đẻ, sinh hoạt tôn giáo, tiếng phổ thông, đạo Tin lành, chữ Mông Latinh Việt Nam2), chữ Mông Latinh khu vực.

Tóm tắtPú Tửu là một bản thuần dân tộc Mông thuộc xã Ẳng Tở huyện Mường Ảng tỉnh Điện Biên. Đây là bản dân tộc thiểu số nằm cách trung tâm thị trấn huyện khoảng 10 km đường núi và kinh tế của bản đang ở tình trạng tư cung tự cấp. Cộng đồng người Mông ở đây là những người dân có sinh hoạt tôn giáo đạo Tin Lành.

Dựa vào tiêu chí xác định chuẩn “xóa mù chữ” theo các Quyết định và Thông của Bộ GD3) và ĐT Việt Nam từ năm 1956 đến năm 2008, vào tháng 1 năm 2013, chúng tôi đã nghiên cứu kết quả “xóa mù chữ” ở địa bàn này. Số liệu khảo sát cho thấy ở Pú Tửu, chỉ có 60,36% số người được phỏng vấn là đã “xóa mù chữ thực tế” tiếng phổ thông (tiếng Việt); trong khi đó có tới khoảng 99% cư dân đã “xóa mù chữ thực tế” tiếng mẹ đẻ (tiếng Mông). Lý do của kết quả xóa mù chữ thực tế tiếng mẹ đẻ cao như vậy, theo quan sát của chúng tôi, là nhờ có tác động của việc người dân tộc Mông ở đây dùng Kinh Thánh bằng chữ Mông trong sinh hoạt tôn giáo.

Hiện tượng này đặt ra một thực tế cần được chú ý trong việc thực hiện chính sách của Nhà nước ở vùng dân tộc thiểu số. Đó là, trong hoạt động PCGDTH-XM  nên chăng chúng ta phải bổ sung hay lựa chọn cách thức (hoặc biện pháp) phù hợp với điều kiện văn hóa – xã hội cho thích ứng theo từng địa bàn. Đồng thời, trong hoạt động PCGDTH-XM, có một vấn đề quan trọng là vấn đề chữ viết bằng tiếng mẹ đẻ của người dân tộc thiểu số. Từ kết quả khảo sát thực địa về thực trạng “xóa mù chữ thực tế” tiếng phổ thông (tiếng Việt) và tiếng mẹ đẻ (tiếng Mông) qua tác động của việc sinh hoạt tôn giáo ở bản thuần người Mông Pú Tửu, bài viết sẽ nêu lên một vài trao đổi thực tiễn về vấn đề này.

Giờ học lớp 1 ở huyện dân tộc miền núi Mường Ảng (ảnh Trần Trí Dõi)

Toàn văn

1. Bản Pú Tửu của người Mông ở xã Ẳng Tở huyện Mường Ảng

            1.1.  Đôi nét về bản người Mông Pú Tỉu  

            Pú Tỉu là một trong số 13 bản cư  dân của xã Ẳng Tở, nằm cách trung tâm thị trấn Mường Ảng khoảng hơn 10 km đường núi. Dân số tính đến cuối năm 2011 là 78 người, với 16 hộ gia đình. Tất cả người dân trong bản đều là dân tộc Mông. Do định cư ở vùng núi cao với điều kiện tự nhiên không thuận lợi về giao thông, người dân ở đây sống gần như độc lập với những bản khác trong xã; những sản phẩm người dân làm ra dường như chỉ phục vụ cho nhu cầu trong bản chứ không mang ra trao đổi mua bán.

            Trong 16 hộ gia đình của bản, hiện chỉ có một nhà có tivi nhưng thường không thu chương trình tiếng phổ thông mà chỉ thu chương trình tiếng Mông. Theo số liệu của UBND xã Ẳng Tở khi chúng tôi làm việc tại địa bàn vào tháng 1 năm 2013, kết quả thực hiện công tác PCGDTH-XM ở bản Pú Tỉu được thể hiện qua những con số báo cáo như sau. Trẻ từ 6 tuổi vào lớp 1 là 100% và trẻ em tốt nghiệp Tiểu học và sau đó tiếp tục vào học lớp 6 cũng là 100%. Như vậy theo nguồn số liệu này, trẻ em đến tuổi được đi học ở bản người Mông Pú Tỉu là 100%.

            Cũng theo báo cáo của UBND xã, tổng số dân có độ tuổi từ 14 trở lên trong bản là 57 người. Trong đó, số người biết chữ ở độ tuổi này là 50 người; như vậy, số người không biết chữ là 07/57 người, chiếm 12,28%. Với con số như thế, nếu theo tiêu chí mà Bộ GD và ĐT đã quy định (tại Thông tư số 14-GDĐT ngày 05 tháng 8 năm 1997), bản dân tộc Mông Pú Tỉu hiện chưa thể được công nhận là bản đạt tiêu chuần biết chữ (tức đã “xóa mù chữ”) ở vùng dân tộc thiểu số miền núi.

1.2. Mù chữ, tái mù chữ và cách thức khảo sát để thu thập tư liệu.

Khái niệm mù chữ (illiteracy) và tái mù (reilliteracy) sử dụng trong bài viết đã được trình bày chi tiết ở tài liệu tham khảo số 5 [T.T.Dõi (2013)]. Trên nguyên tắc, các khái niệm cũng như tiêu chí nhận diện đều dựa theo theo nội dung Quyết định (hay Thông tư) của Bộ GD và ĐT, cơ quan nhà nước quản lý giáo dục ở Việt Nam, công bố từ năm 1956 đến năm 2008. Theo đó, trước hết người đã học từ lớp 1đến lớp 3 tiểu học đạt yêu cầu được coi là đã “xóa mù chữ”; còn nếu bỏ học giữa chừng thì là người “mù chữ”; điều này là nhằm phân biệt người ở tuổi tiểu học vẫn đang đi học (được coi là “không mù chữ”) và người ở độ tuổi từ lớp 1 đến lớp 3 trở lên nhưng không đi học (thì là người “mù chữ”). Thứ hai, người tự học (chưa đến trường) nếu không đạt trình độ tương đương lớp 3 thì cũng được coi là người “mù chữ”. Thứ ba, những người đã học qua lớp 3 nhưng khi kiểm tra mà không đạt trình độ lớp 3 thì được xem là những người “tái mù chữ”. Trong một đơn vị cư trú, số lượng những người “mù chữ” cộng với số người “tái mù” sẽ là những người “mù chữ thực tế”. Thứ tư, đối với đồng bào dân tộc thiểu số, nếu biết chữ dân tộc (tức chữ viết tiếng mẹ đẻđạt trình độ tương đương lớp 3 thì cũng được xem là những người “không mù chữ”. Việc chúng tôi áp dụng những tiêu chí như trên, về cơ bản, phù hợp với thực tế giáo dục của xã hội Việt Nam hiện nay, nhất là đối với cộng đồng người dân tộc thiểu số miền núi.

Cách thức khảo sát tình trạng “mù chữ thực tế“ ở vùng dân tộc thiểu số miền núi của chúng tôi là như sau. Trước hết, sẽ lập “bảng hỏi” để thu thập thông tin cá nhân, trình độ học vấn v.v.; bảng hỏi được thiết kế có phần kiểm tra nội dung “đạt trình độ lớp 3” gồm khả năng đọc, khả năng viết và khả năng hiểu theo những mức khác nhau mà Quyết định (hay Thông tư) của Bộ GD và ĐT đã quy định. Văn bản tiếng Việt được đưa ra để kiểm tra những nội dung nói trên là những vần thơ, đoạn văn hay là những câu nói quen thuộc đã được giảng dạy hoặc có trong chương trình Tiếng Việt lớp 3 bậc Tiểu học.Còn văn bản chữ viết bằng tiếng mẹ đẻ, đối với người Mông Pú Tỉu, là văn bản Kinh thánh đạo Tin lành được người dân trong bản sử dụng .

Tiếp theo, khi tiến hành khảo sát ở địa bàn, các nội dung trong bảng hỏi cũng như phần kiểm tra trình độ đều phải do người đi nghiên cứu điền dã trực tiếp thực hiên. Như vậy, mỗi phiếu phỏng vấn một đối tượng được khảo sát sẽ là kết quả làm việc của một người nghiên cứu. Ở bản Pú Tửu, trên nguyên tắc, chúng tôi đã thực hiện việc khảo sát tất cả cư dân từ 06 tuổi trở lên cư trú tại bản. Cách làm như trên là để thu được một tỷ lệ thực tế ở một địa bàn cư trú cụ thể. Như vậy, với tiêu chí và cách làm như đã mô tả, chúng tôi có được số liệu nghiên cứu tại địa bàn Pú Tửu như mục 2 tiếp theo dưới đây.

2. Kết quả khảo sát thực tế.

2.1Số liệu mù chữ thực tế ở bản người Mông Pú Tỉu

a, Trước hết, việc khảo sát về tình hình mù chữ thực tế tiếng phổ thông của chúng tôi vào tháng 1/2013 ở bản Pú Tỉu có được kết quả như sau.

- Số người được phỏng vấn khảo sát là 63 người (trong đó nam là 39 người, nữ là 24 người).

- Qua làm việc, số người được chúng tôi nhận thấy không biết đọc, không biết viết là 20 người. Thêm vào đó, có 05 người cho biết là từng đã học qua bậc xóa mù chữ (tương đương lớp 3 bậc Tiểu học) nhưng kết quả phỏng vấn của chúng tôi xác nhận họ không biết đọc, không biết viết . Như vậy, bức tranh chung nói trên về số người mù chữ, tái mù chữ ở bản Pú Tỉu được thể hiện qua bảng dưới đây:

Số phỏng vấn

Không biết đọc, viết

Tỷ lệ (%)

Mù chữ

63

20

31,74

Tái mù chữ

63

05

07,90

Tổng cộng

63

25

39,64

Bảng 1: Kết qủa khảo sát tình hình mù chữ, tái mù chữ ở bản Pú Tỉu

Để thấy rõ hơn đặc điểm của tình trạng mù chữ thực tế tiếng phổ thông, chúng tôi xin phân tích chi tết kết quả khảo sát theo giới tính. Trong số 63 người được phỏng vấn, số người mù chữ là nam giới có 05 người và số người tái mù chữ là nam giới có 3 người; như vậy, số nam giới mù chữ thực tế tiếng phổ thông ở Pú Tỉu là 08 người. Còn số người mù chữ là nữ giới có 15 người và số người tái mù chữ là nữ giới có 2 người; như vậy, số nữ giới mù chữ thực tế tiếng phổ thông ở Pú Tỉu là 17 người. Có thể thể hiện số người mù chữ và tái mù chữ ở bản Pú Tỉu theo đặc trưng giới tính ở bảng dưới đây:

Số người

phỏng vấn 63

Mù chữ

Tái mù chữ

Tổng số

Tỷ lệ%

Tổng số

Tỷ lệ%

Nam

05/39

12,82/07,93

03/39

07,63/04,73

Nữ

15/24

62,50/23,81

02/24

08,33/03,17

Tổng số

20/63

31,74

05/63

07,90

Bảng 2: Tình hình mù chữ thực tế tiếng Việt  ở bản Pú Tỉu theo giới tính

            Số liệu phân tích theo giới tính về tình trạng mù chữ thực tế tiếng Việt ở bản Pú Tỉu cho ta thấy được một hiện tượng đáng chứ ý. Đó là, ở bản dân tộc Mông này, tình trạng mù chữ của nữ giới cao gấp nhiều lần so với nam giới. Có lẽ, tình trạng này cũng đã phản ánh một thực tế khác biệt về giới trong việc thụ hưởng giáo dục nói chung cũng như giáo dục ngôn ngữ nói riêng ở vùng đồng bào dân tộc Mông ở Việt Nam.

b, Theo thực tế khảo sát vào tháng 1/2013 ở bản Pú Tỉu, chúng tôi nhận thấy khả năng sử dụng chữ viết tiếng mẹ đẻ của người Mông ở bản Pú Tỉu thuộc vào diện tốt. Có tới gần 99% cư dân đã “xóa mù chữ thực tế” tiếng mẹ đẻ (tiếng Mông). Rõ ràng, tỷ lệ biết chữ tiếng mẹ đẻ (tiếng Mông) ở đây cao hơn rất nhiều tỷ lệ biết chữ tiếng Việt mà chúng ta vừa mô tả.

Xin lưu ý rằng chữ viết tiếng Mông mà người dân bản Pú Tỉu sử dụng là chữ Mông Latinh qua văn bản Kinh thánh đạo Tin lành (chứ không phải bộ chữ Mông Latinh do Việt Nam xây dựng, công bố theo Nghị định số 206/CP ngày 27 tháng 11 năm 1961 [T.T.Dõi (2011)]) . Có một thực tế là những em học sinh người Mông ở đây khi đã học đến lớp 3 bậc Tiểu học, đều được cộng đồng khuyến khích học kèm thêm chữ Mông Latinh qua các bản Kinh thánh. Hình thức học là cách truyền thừa từ người này sang người khác. Chính vì thế có cơ sở để nói rằng người Mông ở bản Pú Tỉu là những người đã xóa mù chữ tiếng mẹ đẻ theo tự dạng chữ Mông Latinh qua văn bản Kinh thánh.

2.2. So sánh thực tế ở bản người Mông Pú Tỉu và Tát Hẹ

Ở huyện dân tộc miền núi Mường Ảng, ngoài việc phỏng vấn tình hình mù chữ, tái mù chữ ở bản người Mông Pú Tỉu xã Ẳng Tở, chúng tôi còn thực hiện công việc này ở bản người Mông Tát Hẹ xã Ẳng Nưa. Về khoảng cách địa lý, hai bản nói trên cách nhau hơn 20 km và đều là những bản xa trung tâm với khoàng cách trên 10 km đường miền núi. Tuy nhiên, về mặt kinh tế – xã hội thể hiện qua một số điều kiện vật chất cũng như cách sinh hoạt của những người dân thì ở hai bản này có sự khác biệt nhất định. Trong khi bản người Mông Tát Hẹ có ưu thế hơn là đường ô tô đã đến được bản nên sự trao đổi kinh tế thuận lợi hơn và trường tiểu học có ngay trong bản thì bản người Mông ở Pú Tỉu hiện chưa có được điều kiện vật chất rất quan trọng này.

a, Kết quả khảo sát tình hình mù chữ thực tế tiếng Việt ở bản người Mông Tát Hẹ thực hiện vào tháng 1/2013 cho biết số người từ 06 tuổi trở lên được phỏng vấn ở bản là 136 người. Trong đó, số người mù chữ là 26/136 người, chiếm 19,11%; số người thuộc diện tái mù chữ là 15/136 người, chiếm 11,02%; như vậy, người mù chữ thực tế tiếng Việt ở bản người Mông Tát Hẹ là 30,13%. Số liệu về tình hình mù chữ và tái mù chữ ở bản Tát Hẹ xã Ẳng Nưa có thể được thể hiện qua bảng dưới đây:

Số phỏng vấn

Không biết đọc, viết

Tỷ lệ (%)

Mù chữ

136

26

19,11

Tái mù chữ

136

15

11,02

Tổng cộng

136

41

30,13

Bảng 3: Tình hình mù chữ, tái mù chữ ở bản người Mông Tát Hẹ

Khi phân tích tình hình mù chữ, tái mù chữ ở bản người Mông Tát Hẹ theo giới tính, chúng ta có được số liệu sau đây. Số nam giới được phỏng vấn là 73/136 người; còn số nữ giới được phỏng vấn là 63/136 người. Trong đó, nam mù chữ là 6/73/136 người và nữ mù chữ là 20/63/136 người; số nam tái mù chữ là 7/73/136 người; số nữ tái mù chữ là 8/63/136 người. Như vậy, tỷ lệ mù chữ thực tế ở bản Tát Hẹ xã Ẳng Nưa theo giới tính là như sau:

Số người

phỏng vấn 136

Mù chữ

Tái mù chữ

Tổng số

Tỷ lệ%

Tổng số

Tỷ lệ%

Nam

06/73

08,21/04,41

07/73

09,58/05,14

Nữ

20/63

31,74/14,70

08/63

12,69/05,88

Tổng số

26/136

19,11

15/136

11,02

Bảng 4: Tình hình mù chữ, tái mù chữ ở bản Tát Hẹ theo giới tính

b. Khi nghiên cứu thực tế ở đây, chúng tôi cũng đã nhận thấy, tuy cùng là dân tộc Mông nhưng người Mông ở bản Tát Hẹ hầu như “không biết chữ tiếng mẹ đẻ” (tiếng Mông). Đây là sự khác biệt rõ nhất về tình trạng “biết chữ“ ở địa bàn hai bản người Mông, thể hiện đặc trưng riêng ở mỗi bản. Cụ thể, người Mông ở bản Pú Tỉu sinh hoạt tôn giáo theo đạo Tin lành; trong khi đó, người Mông ở bản Tát Hẹ  sinh hoạt theo tín ngưỡng dân gian, nên có xu thế gắn với sinh hoạt văn hóa xã hội, với cộng đồng các dân tộc khác trong vùng.

Trong một vài điều kiện kinh tế xã hội – văn hóa khác nhau như thế, tình trạng không biết chữ của cùng một dân tộc ở hai bản có khác nhau. Sự khác nhau rõ nhất là tỷ lệ mù chữ thực tế tiếng Việt ở bản Tát Hẹ thấp hơn (30,13%) bản Pú Tỉu (39,64%) rất nhiều. Sự chênh lệch về tỷ lệ mù chữ thực tế tiếng Việt giữa nam và nữ giới ở hai bản cũng khác nhau: ở Tát Hẹ cũng thấp hơn rất nhiều (08,21/04,41 trên 31,74/14,70) so với tỷ lệ ở Pú Tỉu (12,82/07,93 trên 62,50/23,81). Và sự khác biệt thứ ba mà chúng ta không thể không nói đến là tình trạng biết chữ viết tiếng mẹ đẻcủa người dân tộc. Cụ thể, ở bản Pú Tỉu, người dân đã “sử dụng” chữ Mông Latinh qua con đường đọc Kinh thánh nên hầu như người dân ở đây đều biết chữ viết (biết đọc) tiếng mẹ đẻ của dân tộc Mông. Hiện tượng này hình như không thấy có ở bản Mông Tát Hẹ.

3. Một vài trao đổi

Hiện tượng “biết chữ” phổ thông ở tỷ lệ thấp và có thể “sử dụng” tốt chữ Mông Latinh qua sinh hoạt tôn giáo ở bản người Mông Pú Tỉu (với tình trạng ngược lại ở bản người Mông Tát Hẹ), theo chúng tôi, đặt ra một thực tế cần được chú ý trong hoạt động thực tiễn thực thi chính sách giáo dục nói chung và  giáo dục ngôn ngữ nói riêng của Nhà nước Việt Nam ở vùng dân tộc thiểu số miền núi.

Đó là, thứ nhất, trong hoạt động PCGDTH-XM để thực hiện chính sách giáo dục ngôn ngữ nên chăng chúng ta có thể bổ sung hay lựa chọn cách thức (hoặc biện pháp) phù hợp với điều kiện văn hóa – xã hội cho phù hợp theo từng địa bàn. Nếu như trước đây, về cơ bản, cách thức hoạt động PCGDTH-XM để giáo dục ngôn ngữ thường là dạy – học trong nhà trường. Hiện nay, chúng ta nên bổ sung thêm những cách thức dạy học khác nhau. Theo đó, để thực hiện giáo dục ngôn ngữ (cả tiếng phổ thông – tức tiếng Việt – cũng như tiếng mẹ đẻ của người dân tộc), người ta có thể dạy – học trong nhà trường như truyền thống, cũng có thể dạy – học thông qua sinh hoạt tôn giáo (như trường hợp người Mông Pú Tỉu) và cũng có thể dạy – học thông qua sinh hoạt văn hóa cộng đồng như hoạt động tín ngưỡng và văn hóa dân gian.

Qua trường hợp bản người Mông Pú Tỉu, chúng tôi nhận thấy rằng ở một địa bàn dân tộc thiểu số khi mà hoạt động tôn giáo ở đó là hợp pháp, chúng ta có thể thông qua sinh hoạt tôn giáo để thực hiện nhiệm vụ giáo dục ngôn ngữ, cả việc giáo dục ngôn ngữ quốc gia – tiếng Việt lẫn việc giáo dục tiếng mẹ đẻ của người dân tộc theo cách của chúng ta. Nếu như chỉ đơn thuần dạy – học, chẳng hạn ngôn ngữ quốc gia, bằng cách thức trước đây là đến trường để học theo sách giáo khoa, chúng ta đã chưa chú ý đúng mức đến đặc điểm xã hội trong hoạt động cộng đồng của người dân tộc thiểu số. Cho nên, ví dụ, nếu ở bản người Mông Pú Tỉu hoạt động tôn giáo đã là hợp pháp theo pháp luật Việt Nam, liệu chúng ta có thể dùng Kinh thánh đạo Lin lành bằng chữ tiếng Việt hay bằng chữ Mông Latinh Việt Nam thay thế cho Kinh thánh bằng chữ Mông La tinh khu vực được không? Đối với chúng tôi, nếu chú ý đến cách thức này, có lẽ, chúng ta sẽ thu được những kết quả phù hợp với mong muốn của mình, trong đó có mong muốn PCGDTH-XM ở vùng dân tộc thiểu số miền núi.

Thứ hai, đó là trong hoạt động PCGDTH-XM, qua trường hợp bản người Mông Pú Tỉu, có một vấn đề quan trọng đặt ra là vấn đề chữ viết bằng tiếng mẹ đẻ của người dân tộc thiểu số phải được xử lý như thế nào. Từ kết quả khảo sát thực tế về thực trạng “xóa mù chữ thực tế” tiếng phổ thông (tiếng Việt) và tiếng mẹ đẻ (tiếng Mông) ở bản thuần người Mông Pú Tửu, chúng ta nhận thấy một thực tế cần phải được xử lý. Theo đó, ở đây người Mông dễ dàng dùng Kinh thánh bằng chữ Mông La tinh khu vực; trong khi đó chúng ta có chữ Mông Latinh Việt Nam nhưng hầu như chưa được người dân gắn bó do sử dụng ít phù hợp hay chưa thuận lợi.

Tạm thời loại đi tâm lý tôn giáo có ít nhiều ảnh hưởng đến thái độ ngôn ngữ đối với hai kiểu chữ Mông La tinh nói trên, chúng tôi cho rằng, chúng ta không nên lảng tránh thực tế là chữ Mông Latinh Việt Nam được xây dựng từ những năm 60 của thế kỷ trước sử dụng chưa thuận lợi. Biết rằng, việc xây dựng chữ viết cho người dân tộc thiểu số sao cho dễ sử dụng là một việc làm rất khó khăn. Thế nhưng, cùng với việc khó khăn trong kỹ thuật xây dựng chữ viết latinh cho người dân tộc thiểu số, chúng ta còn chưa thấy rõ giá trị chính trị đối với công việc thuần túy chuyên môn này. Chứng cớ của tình trạng ấy là, mặc dù từ lâu đã biết việc người Mông Pú Tỉu dùng chữ Mông La tinh khu vực trong Kinh thánh dễ dàng hơn chữ Mông Latinh Việt Nam được xây dựng từ những năm 60 của thế kỷ trước, người ta vẫn chưa có biện pháp dứt khoát xử lý tình trạng “chưa thân thiện” đối với người dùng ở trường hợp chữ Mông Latinh Việt Nam.

Như vậy, kết quả và cách thức “xóa mù chữ thực tế” tiếng mẹ đẻ (tiếng Mông) ở bản thuần người Mông Pú Tửu nhờ sinh hoạt tôn giáo trong cộng đồng đã đặt ra cho chúng ta một nhu cầu. Đó là cần (nên) cải tiến cách thức hoạt động trong nhiệm vụ PCGDTH-XM để thực thi chính sách giáo dục ngôn ngữ của Nhà nước đối với vùng dân tộc thiểu số miền núi, đảm bảo sự phát triển bền vững của vùng lãnh thổ này.

Chú thích:

1) GS.TS, Chủ nhiệm Bộ môn “Ngôn ngữ và Văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam”, khoa Ngôn ngữ học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội). Email: doihanh@yahoo.com; web: dantocmiennuisonghong.com.

2) Khái niệm “chữ Mông Latinh Việt Nam” chúng tôi dùng ở đây là để chỉ bộ chữ Mông do Việt Nam xây dựng, công bố theo Nghị định số 206/CP ngày 27 tháng 11 năm 1981 để phân biệt với bộ “chữ Mông Latinh khu vực” mà có người gọi là “chữ Mông Latinh quốc tê” hay “chữ Mông quốc tê” gây sự ngộ nhận không cần thiết.

3) Những chữ viết tắt trong bài: Giáo dục và Đào tạo (GD và ĐT); phổ cập giáo dục tiểu học – xóa mù (PCGDTH-XM); phổ cập giáo dục tiểu học (PCGDTH); giáo dục đào tạo (GDĐT); mù chữ (MC); tái mù chữ (TM); Ủy ban nhân dân (UBND).

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH.

1.- Trần Văn Bính chủ biên (2004), Văn hoá các dân tộc Tây Bắc thực trạng và những vấn đề đặt ra, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

2- Bộ Giáo dục (1956), Quyết định 317/QĐ ngày 26/5/1956 của Bộ GD

3- Bộ Giáo dục và Đào tạo (1997), Thông tư  số 14 – GDĐT ngày 5 tháng 8 năm 1997 của Bộ GD&ĐT

            4.- Bộ Giáo dục và Đào tạo (2004), Chinh sách, chiến lược sử dụng và dạy – học tiếng dân tộc, tiếng Việt cho các dân tộc thiểu số, Kỷ yếu HTQG 2004, 107 tr.

5- Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Quyết định số 13/2007/QĐ-BGD&ĐT của Bộ GD&ĐT

6- Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Quyết định số 79/2008/QĐ-BGDĐT ngày 30 tháng 12 năm 2008 của Bộ GD&ĐT

7- Trần Trí Dõi (2013), Thảo luận về vấn đề mù chữ và tái mù chữ: tiêu chí nhận diện trong hoạt động giáo dục ở Việt Nam, Hội thảo Ngôn ngữ học toàn quốc lần thứ 17, Đại học Ngoại ngữ-Đại học Huế,  ngày 16 tháng 4/2013

8- Trần Trí Dõi (2011), Những vấn đề chính sách ngôn ngữ và giáo dục ngôn ngữ vùng dân tộc thiểu số Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 335 tr.

9- Trần Trí Dõi (2008), Vấn đề lựa chọn ngôn ngữ trong tiếp nhận giáo dục ngôn ngữ ở một vài dân tộc thiểu số của Việt Nam. Ngôn ngữ 11(234)-2008, tr 10-13.

10- Trần Trí Dõi (2008a), Về một vài đặc điểm trong hoạt động giáo dục song ngữ ở vùng dân tộc thiểu số của Việt Nam. Ngôn ngữ & đời sống, 12 (158)-2008, tr 28-32.

11- Đại hội đồng Liên Hợp Quốc (1948), Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc công bố theo Nghị quyết số 217A (III) ngày 10/12/1948.

12- Vũ Đình Hòe (2012), Nguyễn Công Mỹ Tư lệnh chiến dịch diệt giặc dốt, Xưa &Nay số 418 tháng 12 năm 2012, tr 16-18.

13- Nguyễn Đình Hương (2009), Việt Nam hướng tới nền giáo dục hiện đại, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội 2009.

14- Nguyễn Văn Khang (2012), Ngôn ngữ học xã hội, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội 2012.

15- Nguyễn Văn Khang (2011), Chính sách ngôn ngữ của Đảng và Nhà nước về công tác xóa mù chữ, Ngôn ngữ, số 7(266)/ 2011, tr1-13.

16.- UNESCO (2006), Giáo dục trong một thế giới đa ngữ. Tài liệu về quan điểm giáo dục của UNESCO. Bản tiếng Việt 1.2006, 38 tr.

17- Viện Ngôn ngữ học (1992), Từ điển tiếng Viêt, Trung tâm Từ điển ngôn ngữ, Hà Nội 1992.

18- Viện Ngôn ngữ học (2010): Tình hình mù chữ, tái mù chữ và vấn đề xóa mù chữ ở Việt Nam trong thời kỳ hiện đại hóa, công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế, Đề tài NCKH cấp Bộ do TS Phạm Tất Thắng chủ trì (nghiệm thu 2010), 235 tr A4

                                                                                        Hà Nội, tháng 10/2013.

Tin Liên Quan